Cây tre Việt Nam ngữ văn 6


Cây tre Việt Nam ngữ văn 6

Hướng dẫn

I. ĐỀ LUYỆN TẬP

Đề 1. Đọc diễn cảm bài "Cây tre Việt Nam” của nhà văn Thép Mới. Chép lại một đoạn văn đặc sắc miêu tả vẻ đẹp cây tre. Em nhớ viết đúng, viết đẹp đoạn văn ấy và gạch chân các tính từ.

Đề 2. Chép đúng, đẹp một đoạn văn được Thép Mới sử dụng biện pháp tu từ điệp ngữ, nhân hoá khi nói về cây tre, luỹ tre thân thuộc của làng quê.

Đề 3. của em về cây tre thân thuộc đáng yêu được Thép Mới nói đến trong bài tuỳ bút "Cây tre Việt Nam".

Đề 4. Thép Mới ca ngợi cây tre là người bạn thân của nông dân Việt Nam. Hãy nói lên cảm nhận của em khi đọc bài tuỳ bút "Cây tre Việt Nam".

Đề 5. Cảm nhận của em về cây tre là đồng chí chiến đấu của ta và vai trò của cây tre trong tương lai. Nêu của em sau khi đọc bài tuỳ bút "Cây tre Việt Nam".

Đề 6. Phân tích đoạn văn Thép Mới nói về nhạc của tre, măng tre và vai trò của cây tre trong tương lai. Nêu cảm nghĩ của em sau khi đọc bài tuỳ bút "Cây tre Việt Nam".

II. BÀI VĂN TỰ LUẬN

Đề 1. Đọc diễn cảm bài "Cây tre Việt Nam” của nhà văn Thép Mới. Chép lại một đoạn văn đặc sắc miêu tả vẻ đẹp cây tre. Em nhớ viết đúng, viết đẹp đoạn văn ấy và gạch chân các tính từ.

“Cây tre Việt Nam”là bài tuỳ bút nổi tiếng của Thép Mới. Chất thơ dào dạt trong văn, nhất là tác giả miêu tả vẻ đẹp của cây tre thân thuộc nơi làng quê thân yêu của mỗi chúng ta. Các tính từ được sử dụng đã cho thấy sự giàu có về ngôn từ của Thép Mới:

“Tre, nứa, trúc, mai, vầu, mấy chục loại khác nhau, nhưng cũng cùngmột mầm non măng mọc thẳng. Vào đâu, tre cũng sống, ở đâu tre cũng xanh tốt. Dáng tre vươn mộc mạc, màu tre tươi nhũn nhặn. Rồi tre lớn lên, cứng cáp, dẻo dai, vững chắc. Tre trông thanh cao, giản di, chí khí như người”.

Đề 2. Chép đúng, đẹp một đoạn văn được Thép Mới sử dụng biện pháp tu từ điệp ngữ, nhân hoá khi nói về cây tre, luỹ tre thân thuộc của làng quê.

Bài làm

Trong bài “Cây tre Việt Nam”, Thép Mới đã sử dụng biện pháp tu từ điệp ngữ, nhân hoá rất đặc sắc khi nói về cây tre, luỹ tre thân thuộc của làng quê. Đây là một đoạn văn tiêu biểu mà em yêu thích:

“Nhà thơ đã có lần ca ngợi:

Bóng tre trùm mát rượi.

Bóng tre trùm lên âu yếm lànq, bản, xóm, thôn. Dưới bóng tre của ngàn xưa, thấp thoáng mái đình, mái chùa cổ kính. Dưới bóng tre xanh, ta gìn giữ một nền vănhoá lâu đời. Dưới bóng tre xanh, đã từ lâu đời người dân cày Việt Nam dựngnhà, dựng cửa, vỡ ruộng, khai hoang. Tre ăn ở với người, đời đời, kiếp kiếp. Tre, nứa, mai, vầu giúp người trăm nghìn công việc khác nhau. Tre là cánh tay của người nông dân:

>> Xem thêm:  MS264 - Phân tích tình phụ tử thiêng liêng và cao đẹp trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh trong truyện Chiếc lược ngà

Cánh đồngta năm đôi ba vụ

Tre với người vất vả quanh năm”

Đề 3. Cảm nhận của em về cây tre thân thuộc đáng yêu được Thép Mới nói đến trong bài tuỳ bút "Cây tre Việt Nam".

Bài làm

Thép Mới là nhà báo, nhà văn trưởng thành từ Cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ. Khái niệm lịch sử “Trận Điện Biên Phủ trên không” do Thép Mới sáng tạo nên để ca ngợi chiến công hiển hách của quân và dân Hà Nội bắn rơi hàng loạt pháo đài bay của giặc Mĩ vào tháng 12 năm 1972. Một vinh dự to lớn của Thép Mới là bài tùy bút "Cây tre" của ông từng hiện diện trên trang văn Trung học, được nhiều thế hệ học sinh đón đọc với tất cả niềm say mê, yêu thích.

Tùy bút “Cây tre” được Thép Mới viết vào năm 1956, để cho bộ phim "Cây tre Việt Nam" của một số nhà điện ảnh Ba Lan. Cảm hứng tự hào dào dạt, bút pháp tài hoa đã tạo nên chất thơ trữ tình của áng văn xuôi này.

Mở bài là một câu văn 18 chữ, Thép Mới giới thiệu cày tre trong tâm hồn nhân dân ta, nó là "người bạn thân" gần gũi thân thiết yêu thương. Càu vãn đáy ấn tượng: "Cây tre là người bạn thân của nông dânViệt Nam, bạn thân của nhân dân Việt Nam".

Cây tre của làng xóm ta thân thuộc đáng yêu.

Phần thứ hai, tác giả nêu bật cây tre trong đời sống vật chất và tinh thần, trong sản xuất, trong tâm hồn, trong chiến đấu của nông dân Việt Nam, của nhân dân Việt Nam qua trường kì lịch sử. Ý tưởng đẹp, giàu có, cách diễn đạt và giọng văn biến hóa, hấp dẫn, đó là cảm nhận của chúng ta.

Nước ta thuộc vùng nhiệt đới, bốn mùa chan hòa ánh nắng, cây cỏ tốt tươi "xanh muôn ngàn cây lá khác nhau". Tác giả so sánh để ca ngợi vị thế cây tre trong lòng người: "Cây nào cũng dẹp, cây nào cũng quý, nhưngthân thuộc nhất vẫn là tre nứa".Tre có mặt khắp mọi miền : Đồng Nai, , Điện Biên Phủ, và "lũy tre thân mật làng tôi". Tre được nhân hóa, trở nên gần gũi yêu thương: "đâu đâu ta cũng có nứa tre làm bạn".

Họ hàng nhà tre thật đông đúc: "tre, nứa, trúc, mai, vầu mấy chục loại khác nhau", nhưng lại có một điểm tương đồng, đó là "cùng một mầm non măng mọc thẳng". Một phát hiện tinh tế, ý vị. Tre có một sức sống vô cùng mạnh mẽ "vào đâu tre cũng sống, ở đâu tre cũng xanh tốt". Ý đó, 15 năm sau, nhà thơ Nguyễn Duy xúc động hát lên:

"Ở đâu tre cũng xanh tươi

Cho dù đất sỏi, đất vôi bạc màu".

(Tre Việt Nam)

Nhìn dáng tre, màu tre, sự sinh sôi nảy nở của tre, nhà văn phát hiện ra bao vẻ đẹp riêng của tre như "mộc mạc", "nhũn nhặn". "cứng cáp", "dẻo dai", "vững chắc". Tre được nhân hóa trở thành một biểu tượng sáng giá: "Tre trông thanh cao, giản dị, chí khí như người". Phẩm chất của tre cũng là phẩm chất của Việt Nam xưa nay trên nhữngchặng đường lịch sử vẻ vang.

>> Xem thêm:  Kể lại diễn cảm truyện Em Bé Thông Minh bằng lời văn của em và hãy nêu cảm nghĩ.

Thép Mới trích dẫn câu thơ của Tố Hữu: "Bóng tre trùm mát rượi"để từ đó nói lên vẻ đẹp của lũy tre làng quê, một vẻ đẹp êm đềm của xứ sở: "Bóng tre trùm lên âu yếm làng, bản, xóm, thôn". Tre là vẻ đẹp của cảnh sắc làng quê, là vẻ đẹp của nền văn hóa lâu đời của dân tộc, là nếp sống cần cù và yên vui êm đềm của nhân dân ta qua hàng nghìn năm lịch sử. Các từ ngữ, hình ảnh: "bóngtre", "dưới bòngtre của ngàn xưa”, "dưới bóng tre xanh",… "dưới bóng tre xanh"được điệp lại, láy lại đã tạo nên giọng văn nhẹ nhàng mênh mang biểu cảm:

"Dưới bóng tre của ngàn xưa, thấp thoáng mái chùa cổ kính. Dưới bóng tre xanh, ta gìn giữ một nền văn hóa lâu đời. Dưới bóng tre xanh, đã từ lâu đời, người dân cày Việt Nam dựng nhà, dựng cửa, vỡ ruộng, khai hoang. Tre ăn ở với người, đời đời, kiếp kiếp".Màu xanh của tre cũng là màu tâm hồn, màu thời gian, màu sắc của nền văn hóa, màu tình nghĩa chung thủy.

Đề 4. Thép Mới ca ngợi cây tre là người bạn thân của nông dân Việt Nam. Hãy nói lên cảm nhận của em khi đọc bài tuỳ bút "Cây tre Việt Nam".

"Cánh tay" là hình ảnh hoán dụ ca ngợi cây tre là người bạn cần cù trong lao động của nhà nông, từng chia ngọt sẻ bùi, từng một nắng hai sương với bà con dân cày Việt Nam:

"Cánh đồng ta năm đôi ba vụ,

Tre với người vất vả quanh năm".

Nói về cối xay tre thủ công, Thép Mới muốn gợi nhớ một thời gian khổ. Câu văn xuôi được cắt thành những vế ngắn 3, 4 chữ, có vần, nhầm tạo ra một trường liên tưởng về nền kinh tế lạc hậu, đời sống thiếu thốn của nhân dân ta sau một thế kỉ bị thực dân thống trị: "Cối xay tre / nặng nề quay / từ nghìn đời nay / xay nắm thóc".

Tre được nhân hóa: "Tre ăn ở với người", “tre… giúp người…”, "tre vẫn phải còn vất vả mãi với người", "tre là người nhà",v.v… Từ một vật thể, cây tre trở nên có tâm hồn, có linh hồn gắn bó với cuộc đời vất vả, ấm no, hạnh phúc của nhân dân ta trong dòng chảy thời gian. Tre gắn bó với tâm tình của nhân dân. Lạt giang mềm để gói bánh chưng; sự hiện hữu của nó trong sính lễ như "khít chặt" những mối tình quê thắm thiết chung thủy. Cách viết của Thép Mới rất tài hoa, cách dẫn thơ đậm đà, lí thú:

"Giangchẻ lạt, buộc mềm, khít chặt như những mối tình quê cái thuở ban đầu thường nỉ non dưới bóng tre, bóng nứa: Lạt này gói bánh chưng xanh – Chomai lấy trúc, cho anh lấy nàng".

>> Xem thêm:  Tả chân dung của bạn em

Chiếc điếu cày tre là niềm vui tuổi già, chiếc nôi tre là sự ấm êm hạnh phúc của tuổi thơ, cái giường tre bình dị gắn bó với mọi người mọi nhà "sống có nhau, chết có nhau, chung thủy". Qua cây tre, tác giả ca ngợi tình nghĩa thủy chung là đạo lí cao đẹp của dân tộc.

Đề 6. Phân tích đoạn văn Thép Mới nói về nhạc của tre, măng tre và vai trò của cây tre trong tương lai. Nêu cảm nghĩ của em sau khi đọc bài tuỳ bút "Cây tre Việt Nam".

Bài làm

Phần thứ ba của bài tùy bút nói về cây tre trong tương lai. Như một quy luật của sự sống vĩnh hằng: “Tre già măng mọc”. Búp măng non sẽ còn mãi trên phù hiệu ở ngực thiếu nhi Việt Nam. Tre, nứa "sẽ còn mãi… còn mãi… còn mãi…"với dân tộc ta, "chia bùi sẻ ngọt" với nhân dân ta trong hạnh phúc, hòa bình.

Đất nước sẽ được công nghiệp hóa, hóa, sẽ có nhiều sắt thép, nhưng cây tre vẫn sống mãi trong tâm hồn dân tộc. Bóng mát của tre xanh, khúc nhạc tâm tình của tre, cổng chào thắng lợi, những chiếc đu tre, tiếng sáo diều tre vẫn trường tồn cùng đất nước và nhân dân ta trên dặm đường trường "của những ngày mai tươi hát"…

Cây tre Việt Nam, cây tre xanh với bao phẩm chất "nhũn nhặn, ngay thẳng, thủy chung, can đảm''là biểu trưng cao đẹp "những đức tính của người hiền", là "tượng trưng cao quý của dân tộc Việt Nam". Thép Mới đã dành những lời tốt đẹp nhất ca ngợi cây tre với tất cả tình yêu và niềm tự hào quê hương xứ sở, về đất nước và con người Việt Nam.

"Cây tre"là một tùy bút đặc sắc, xứng đáng là một tờ hoa, trang hoa của Thép Mới để lại cho đời. Cây tre xanh, lũy tre xanh là cảnh sắc làng quê, là bạn thân, là cánh tay, là đồng chí chiến đấu anh hùng, là người bạn tâm tình,… của nông dân Việt Nam, của nhân dân Việt Nam. Trên con đường đi tới ngày mai ca hát, hạnh phúc, hòa bình, cây tre vẫn là người bạn thủy chung của nhân dân ta, chia ngọt sẻ bùi với dân tộc ta. Cây tre là biểu lượng cao quý về những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam. Những ý tưởng phong phú ấy, tốt đẹp ấy đã được diễn tả bằng một bút pháp tài hoa. Câu văn xuôi vừa cổ kính, vừa hiện đại. Tác giả đã sử dụng rất sáng tạo các biện pháp ẩn dụ, nhân hóa, điệp ngữ, phép đối để tạo nên những câu văn xuôi trữ tình giàu chất nhạc, chất thơ, dào dạt cảm xúc.

Tình yêu quê hương đất nước, tự hào về người nông dân Việt Nam, về nhân dân Việt Nam, về nền văn hóa lâu đời của dân tộc, niềm tin về ngày mai tươi sáng… đó là những tình cảm tốt đẹp, sâu sắc của Thép Mới mà ta cảm nhận được qua bài tùy bút và qua hình tượng "Cây tre".

Nguồn: Vietvanhoctro.com

Bài viết liên quan