MS291 – Khoảng trống mà Nguyễn Du để lại trong văn học Việt Nam nếu không có truyện Kiều?


Đề bài: Khoảng trống mà để lại trong Việt Nam nếu không có truyện Kiều?

Bài làm

Hơn hai nghìn năm qua, Truyện Kiều đã đi vào lòng người dân Việt Nam, đem đến cho lịch sử văn học Việt một viên ngọc quý giá. Không phải ngẫu nhiên mà trong “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng” Chế Lan Viên viết: Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hoá thành văn.  Chúng ta không thể phủ nhận những giá trị đẹp đẽ mà Truyện Kiều đem lại, cũng như mãi chẳng thể nào kể hết được chúng, bởi Truyện Kiều viết ra, nó mang cái bản sắc của chính dân tộc mình để tô lên vẻ đẹp của bản sắc ấy. Tôi nhiều khi tự hỏi, nếu không có Truyện Kiều, nền văn học nước nhà sẽ như thế nào? Vẫn biết là nếu Nguyễn Du năm đó không viết Kiều thì văn học Việt Nam sẽ không thể xuống cấp hay mờ nhạt bởi vốn vẫn đang có rất nhiều những cây bút xuất sắc khác, nhưng có thể chắc chắn ngay một điều rằng: Nếu thiếu đi Truyện Kiều, nền văn học Việt Nam sẽ có một lỗ hổng rất lớn.

Bắt đầu từ cuối thế kỉ XIX, Nguyễn Du cùng Truyện Kiều xuất hiện như một hiện tượng văn học. Người dân Việt Nam đón nhận Kiều với tâm thế hồ hởi, vui mừng. Thế hệ ông bà ta đã từng lấy Kiều làm cuốn sách gối đầu, lúc chuẩn bị đi ngủ đọc Kiều, mở mắt ra là đọc Kiều. Truyện Kiều đem lại một sức hút mãnh liệt trong đời sống nhân dân Việt Nam xưa. Người ta lấy Kiều làm lẫy, làm bói, làm bài học dạy thế hệ sau này. Chân tay người ta mà miệng người ta không ngừng đọc Kiều, cả một tập truyện dài ba nghìn hai trăm năm mươi tư câu đã có nhiều người thuộc đến không thiếu một từ. Đúng như vậy, Truyện Kiều cứ như thế và đã như thế mà đến với đời sống vốn kham khổ của người dân Việt Nam xưa khiến nó trở nên tươi đẹp và phong phú đến lạ lùng.

Truyện Kiều không chỉ đi sâu vào tâm hồn Việt mà thậm chí còn vượt ra ngoài biên giới đến với các độc gải trên toàn thế giới. , Truyện Kiều được dịch ra hơn 20 thứ tiếng với 60 bản dịch khác nhau như Nhật bản, Trung Quốc, Anh, Đức, Pháp… hay thậm chí là tiếng Hi Lạp, Ả Rập và Mông Cổ. Có thể thấy, Truyện Kiều đang có một vai trò không hề nhỏ trên con đường làm rạng danh nền văn học Việt Nam đối với các nước bạn.

truyen kieu doan truong tan thanh - MS291 - Khoảng trống mà Nguyễn Du để lại trong văn học Việt Nam nếu không có truyện Kiều?

Từ những đóng góp trên, ta càng thêm phần khẳng định vị trí quan trọng của Truyện Kiều trong nền văn học Việt Nam. Rằng nếu không có tác phẩm vĩ đại này của Nguyễn Du, văn học Việt Nam đã chẳng thể thành công rực rỡ đến thế. Và để lí giải cho vị trí hàng đầu của Truyện Kiều, ta sẽ tìm hiểu kĩ hơn về giá trị ngôn ngữ và giá trị nội dung mà Nguyễn Du đã bày tỏ hết sức chân thực.

Bắt đầu từ vốn từ ngữ phong phú được thể hiện hết sức điêu luyện và tài tình trong hơn ba nghìn câu thơ của Truyện Kiều, ta tự hỏi từ đâu và do đâu mà ông lại sử dụng ngôn ngữ khéo léo mà tinh tế đến thế? Phải chăng là do sự trải nghiệm qua các lần đi sứ sang đất nước Trung Hoa với nhiều nét đặc sắc và độc đáo về văn học. Có lẽ cũng một phần do đó mà vốn hiểu biết của ông trở nên đa dạng và giàu có hơn. Về sau khi viết Truyện Kiều ông đã vận dụng nó một cách thật linh hoạt mà sáng tạo. Dựa trên cuốn tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân -“ Kim vân Kiều truyện”, Nguyễn Du đã thành công khi biến hoá một tác phẩm văn xuôi cứng nhắc trở nên uyển chuyển và hoàn mỹ. Bằng việc sử dụng thể thơ lục bát truyền thống của dân tộc và cách dùng từ, phối vần, luyến láy ,thêm bớt chi tiết kết hợp với lối văn vừa tự sự vừa biểu cảm, từ đến , từ độc thoại đến đối thoại. Tất cả đều tự nhiên và sinh động như chính muôn màu, câu chữ được gọt dũa chau chuốt, ý thơ thấu tình đạt lí lối nào ra lối ấy mà bao giờ cũng thực hơn cả hiện thực.

Truyện viết về người con gái Thuý Kiều “ sắc đành đọi một, tài đành hoạ hai”. Thuý Kiều giữa lúc thanh xuân của đời người, giữa cái lúc nàng tìm được Kim Trọng- chàng trai phong lưu nho nhã để se duyên thì lại phải bán mình để cứu cha và em gái. Kể từ đây, cuộc đời mười lăm năm lưu lạc của nàng trải qua không biết bao nhiêu sự vùi dậy, vấp ngã ở không biết bao nhiêu vũng lầy. Thương cảm cho thân phận đó, Nguyễn Du bằng trái tim đa cảm đã viết lên Truyện Kiều cũng như viết lên tiếng khóc thương cho chính nhân vật của mình. Nhưng ngòi bút của ông không chỉ dừng lại ở chủ nghĩa nhân đạo này mà nó còn tồn tại một giá trị nghệ thuật văn học vĩnh cửu xuyên suốt các thời đại của Việt Nam.

>> Xem thêm:  MS318 - Bài thơ Quê hương là một bức tranh mang vẻ đẹp tươi sáng, giàu sức sống của một làng quê

 Bút pháp tả cảnh, tả người, hay tả cảnh mà ngụ tình, những hình ảnh ước lệ tượng trung đều được Nguyễn Du sử dụng thành thạo và hết sức điêu luyện. Cảnh xen vào tâm trạng con người như để làm nổi bật tâm trạng. Thậm chí, nhiều khi tác giả không trực tiếp tả tâm trạng nhân vật mà chỉ thông qua việc tả cảnh để gợi lên tâm trạng. Ta có thể thấy trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, tác giả có viết thế này:

Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồn xa xa

Buồn trông ngọn nước mới xa

Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Buồn trông nội cỏ dầu dầu,

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi

Chỉ với đôi ba thôi, nhưng cả bức tranh không gian đượm buồn đã ở trước mắt chúng ta, thấp thoáng đâu đó là bóng dáng của một giai nhân lẻ loi, cô độc đang ngóng đợi hay hy vọng điều gì đó. Đọc câu thơ, độc giả tưởng chừng như những cánh hoa trôi lênh đênh kia cũng như Kiều đang nhắm mắt mặc cho dòng đời xô đẩy. Hoa lìa cành, hoa rũ rượi héo úa, Kiều lìa xa những người thương yêu, Kiều cũng rã rời như cánh chim lạc bầy. Một ngày kia, liệu con chim ấy có chết rũ bên đường?

Hay trong một đoạn tả người:

Mai cốt cách, tuyết tinh thần

Mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn mười

Vân xem trang trọng khác vời

Khuôn mặt đầy đặn nét ngài nở nang

Hoa cười ngọc thốt đoan trang

Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da

Kiều càng sắc sảo mặn mà

So bề tài sắc lại là phần hơn

Làn thu thuỷ, nét xuân sơn

Hoa ghen đua thắm, liễu hờn kém xanh.

Dường như vẻ đẹp ‘’ nghiêng nước nghiêng thành” của hai chị em Kiều dưới ngòi bút của Nguyễn Du đã được xếp vào hàng “ tuyệt sắc giai nhân”. Ta chẳng thể tìm được ở đâu một người nào có thể tả được vẻ đẹp của con người mà lại sắc sảo và tinh vi như ông.

Đâu chỉ có thế, đọc Truyện Kiều, ta còn được chiêm ngưỡng bức tranh thiên nhiên đẹp thơ mộng tại nhân gian nhưng lại chẳng khác gì ở chốn tiên cảnh:

Ngày xuân con én đưa thoi

Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi

Cỏ non xanh tận chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Luôn có khả năng nắm bắt cái hồn của cảnh vật để rồi sau đó chỉ bằng vài chi tiết nhỏ đã làm cảnh vật nổi bật hơn với đúng cái thần, cái hồn của nó. Ngay từ câu đầu, tác giả đã dùng hình ảnh cánh én đưa thoi để chỉ thấm thát trôi qua quá nhanh. Rồi lại đột ngột mở ra khoảng không gian cỏ non xanh mướt tới tận chân trời. Nhưng mà tất cả đó dường như chỉ để làm một cái nền thật hoàn hảo cho bông hoa lê trở thành món đồ trang sức đắt tiền tô điểm cho mùa xuân. Quả thật chỉ có Nguyễn Du mới có cái tài nghệ ấy, bởi nếu không có Truyện Kiều thì bức tranh mùa xuân tuyệt đẹp này sẽ không xuất hiện và làm rung cảm biết bao thế hệ bạn đọc đến thế.

Song song với đó, Truyện Kiều của Nguyễn Du còn đem đến cho văn viết cũng như văn nói nước nhà một loạt những câu từ mới, thành ngữ mới. Thử hỏi, nếu Truyện Kiều chưa từng xuất hiện, chúng ta làm sao có các nhân vật đã đi vào đời sống của một dân tộc hàng trăm năm mà không hề bị mai một, rằng ghen như Hoạn Thư, rằng dâm ô như Sở Khanh, rằng chết đứng như Từ Hải, rằng phong lưu thư sinh như Kim Trọng và hồng nhan bạc mệnh như Thuý Kiều…? Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du đã nâng ngôn ngữ văn học của thời đại lên một đỉnh cao chói lọi mà không phải ai cũng có thể làm được. Ngay từ thế kỉ XIX, cụ Đào Nguyên Phố đã đánh giá Truyện Kiều là “một khúc Nam âm tuyệt xướng”, điều này, ngay cả một từ cũng không sai.

Ngôn ngữ miêu tả trong Truyện Kiều lại đạt đến độ chính xác. Vừa biểu đạt được nội dung, vừa thể hiện được cái hay của nghệ thuật dùng từ. Có thể nói, Đại Thi Hào của chúng ta đã dồn hết tâm huyết và tài năng của mình vào ngòi bút để làm nổi bật lên giá trị của ngôn ngữ dân tộc- một thứ ngôn ngữ mà dù có phong ba bão táp cũng không thể quật đổ hết, một thứ ngôn ngữ giàu đẹp và mượt mà. Thành công về phương diện ngôn ngữ này của Nguyễn Du có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với lịch sử Việt Nam. Điều này khẳng định một cách đầy thuyết phục sự phong phú và khả năng to lớn của ngôn ngữ dân tộc trong sáng tác văn học.

>> Xem thêm:  MS285 - Nghị luận về chủ đề Hãy sống là chính mình

Không chỉ dừng lại ở phương diện ngôn ngữ, nội dung Truyện Kiều còn tạo nên một sự thành công rực rỡ. Truyện còn là tiếng nói nhân đạo của Nguyễn Du, ở đó tác giả thấy một Thuý Kiều tài sắc vẹn toàn lại thêm tâm hồn nhân hậu cao quý biết thương cảm, biết hy sinh. Đáng lẽ ra, nàng phải được  sống hạnh phúc, được yêu thương, chăm sóc; nhưng không, xã hội phong kiến tàn bạo đã vồ vập lấy nàng, đổ vào đầu nàng biết bao nhiêu đau khổ bất hạnh của kiếp người. Truyện Kiều là tiếng nói thương cảm, là tiếng khóc đau đớn của đại thi hào trước số phận bi kịch của Kiều. Khóc cho Kiều, Nguyễn Du khóc cho những nỗi đau lớn của con người: tình yêu tan vỡ, cốt nhục ly tan, nhân phẩm bị chà đạp, thể xác bị đoạ đầy…

Thuý Kiều từ một cô gái khuê cát, tài sắc vẹn toàn, bỗng chốc phải bán thân cứu gia đình, mở đầu cho quãng đời mười lăm năm lưu lạc đoạ đạy. Cuộc đời nàng hết gian truân này lại đến đau khổ khác. Mối tình tuyệt đẹp giữa nàng và chàng Kim Trọng phong lưu nho nhã vừa mới chớm nở đã vội lụi tàn. Những chuỗi ngày đau khổ sau đó, không biết nàng đã khóc bao nhiêu lần, nhiều lần tưởng chừng như đã tìm được hạnh phúc cuối cùng, ai ngờ lại không phải, hiện thực cuộc sống vẫn không chịu buông tha cho tấm  thân nhỏ bé của Kiều. Cuộc đời nàng như cánh chim lạc bầy, một mình bay cô độc bay trong giông tố, chỉ cần một cơn bão là có thể chết rũ bên đường. Đọc Kiều, Mộng Liên Đường- chủ nhân trong bài Tựa Truyện Kiều  có một lời nhận xét tuy ngắn gọn mà đã khái quát được tài hoa ấy của Nguyễn Du: “Lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột,… Tố Như tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh như hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trông cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời, thì tài nào có cái bút lực ấy”.

Đồng thời, Truyện Kiều còn đề cao, ngợi ca con người từ vẻ đẹp hình thức, nhân phẩm đến những về công lí và tự do, là những khát vọng chân chính mà từ xa xưa ông bà ta đã luôn hướng đến. Điều này có lẽ đã được thể hiện rõ nhất trong trích đoạn Thuý Kiều báo oán, lúc xử Hoạn Thư, Nguyễn Du viết thay lời Kiều: 

“Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu,

Khấu đầu dưới trướng, liệu điều kêu ca.

Rằng: Tôi chút phận đàn bà,

Ghen tuông, thì cũng người ta thường tình!

Nghĩ cho khi các viết kinh,

Với khi khỏi cửa, dứt tình chẳng theo.

Lòng riêng, riêng những kính yêu,

Chồng chung, chưa dễ ai chiều cho ai!

Trót đà gây việc chông gai,

Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng.

Khen cho: thật đã nên rằng:

Khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời.

Tha ra thì cũng may đời,

Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen.

Đã lòng tri quá thì nên

Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay.”

Trong lễ giáo phong kiến, xã hội hoàn toàn không phản đối việc đàn ông có đến “năm thê, bảy thiếp” nên sự xuất hiện của Kiều trong gia đình nhỏ của Hoạn Thư lúc đó là một chuyện hết sức bình thường. Ấy vậy nhưng cái “đức” ghen đã cho phép nàng ta bắt cóc Kiều đem Kiều đến nhà mẹ mình để đánh phủ đầu và dạy nghề làm tôi tớ. Đợi sau khi Thuý Kiều quen việc nô tì mới cho đem về nhà. Tuy nhiên, Hoạn Thư ghen thì ít mà giận chồng thì nhiều nên đối với Kiều cũng không khắc nghiệt quá đáng. Nể tình ấy cùng với sự khéo léo trong tài ăn nói, trong lần báo oán sau này Thuý Kiều đã tha thứ cho Hoạn Thư, xử lí rất nhẹ nhàng. Điều này chứng minh, trong tư tưởng xây dựng nhân vật của Nguyễn Du luôn do chủ nghĩa nhân đạo làm chủ phần hơn. Ông luôn hướng đến một cuộc sống yên bình mà ở đó con người yêu thương và chung sống hoà thuận với nhau.

Trong khi đó, đối chiếu với bản gốc Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân thì lại là một đoạn văn xuôi khá rườm rà và ghê rợn: Cung nữ dạ ran, túm tóc Hoạn Thư lôi ra, lột hết áo quần, chỉ chừa lại một cái khố, tóc buộc lên xà nhà. Hai tên cung nữ mỗi tên túm một tay để lôi giăng ra, trước và sau có hai cung nữ khác cầm roi ngựa đồng loạt ra tay, một người đánh từ trên đánh xuống, một người đánh từ dưới đánh lên, đánh như con chạch rơi trên đống tro, con lươn trong vạc nước nóng, luôn luôn dẫy dụa kêu trời. Toàn thân chẳng còn miếng da nào lành lặn. Sau khi cung nữ báo cáo đủ một trăm roi, phu nhân truyền lệnh đem Hoạn thị ra giao cho Thúc Sinh. Quân sĩ dạ ran. Cởi tóc Hoạn Thư mang xuống thì đã nửa sống nửa chết, mang ra ngoài cho Thúc Sinh nhận lãnh. Có thể thấy, trong Kim Vân Kiều truyện, tác giả đã quá đề cao nội dung đấu tranh giai cấp, hận thù triền miên mà chưa hướng tới cái mục đích sống cuối cùng của con người là mưu cầu một cuộc sống yên bình hạnh phúc. Đây là một bước phát triển mới và tốt đẹp của Nguyễn Du so với Thanh Tâm Tài Nhân. Nếu không phải là một tâm hồn đa sầu đa cảm, một trái tim biết hướng thiện, một lương tâm không ngừng phẫn nộ trước thời đại như Nguyễn Du thì sẽ chẳng ai có thể đưa hình tượng con người đến những vẻ đẹp lí tưởng đến vậy.

>> Xem thêm:  Thái độ châm biếm, mỉa mai của tác giả trong bài thơ Lai Tân.

Song song đó, Truyện Kiều là còn câu chuyện đời thực, đọc Truyện Kiều cả một xã hội phong kiến thối nát hiện lên rõ ràng đến trần trụi. Bức tranh về xã hội tàn bạo được tóm gọn, nói rõ trong Truyện Kiều, từ các thế lực đen tối, từ bọn sai nha… đến bọn ma cô mụ cốc.. tất cả bọn chúng đều ích kỉ và tham lam. Chúng coi rẻ tính mạng và phẩm giá của con người. Nào là Tú Bà, Bạc Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh… lũ đầu trâu mặt ngựa, lòng lang dạ sói đó đã bằng vu oan, bằng đánh đập đã đẩy người con gái lương thiện vào bước đường cùng, không chừa lối thoát.

Một xã hội phong kiến lạc hậu, xuống cấp dưới ngòi bút của Nguyễn Du bỗng chốc trở nên thật chân thực. Con người bị đồng tiền chi phối, bị dẫn dắt làm cho nhân phẩm trở nên méo mó biến dạng. Có thể thấy, đồng tiền chính là thế lực đen tối nhất trong xã hội lúc bấy giờ, sức mạnh ma quái của nó đã tha hoá con người, làm đảo điên sự thật- “ Dẫu lòng đổi trắng thay đen khó gì”, nó chà đạp lên lương tâm con người mà làm lu mờ công lí-“ Có ba trăm bạc việc này mới xuôi”.

Khóc cho Kiều, đồng thời còn là sự tố cáo mãnh liệt đến xã hội phong kiến độc ác đã dung túng những thói xấu, những hủ tục, những quan niệm sai trái lệch lạc đã trực tiếp chà đạp lên số phận của con người khiến cho cuộc sống của họ ngày càng trở nên điêu đứng và  khổ sở gấp bội.

So với thời đại lúc bấy giờ, lên tiếng bảo vệ quyền người con người mà nhất là người phụ nữ, Nguyễn Du không phải là người đầu tiên, nhưng có thể khẳng định ông là người đã làm xuất sắc nhất, thành công nhất. Mọi triết lí nhân sinh trong Truyện Kiều không những đúng với thời đại của ông mà còn đúng với cả xã hội .  Cho thấy, ngay từ xa xưa, Nguyễn Du đã có một nhân sinh quan rõ rệt và vững vàng, điều đó đã làm cho Truyện Kiều có một giá trị vĩnh vửu, bất di bất dịch, một tác phẩm vượt thời gian và không gian, và luôn được tôn vinh ở bất kì thời đại nào. 

Có thể nói, Truyện Kiều của Nguyễn Du đóng một vai trò không hề nhỏ trong nền văn học dân tộc. Đúng như tác giả Lê Trí Viễn đã viết: “Câu chuyện trầm luân của Thúy Kiều xưa nay biết bao người nói đến, lời thơ của Nguyễn Du đã đi qua hàng thế kỷ, thế mà bao khúc nôi đoạn trường cùng những lời đứt ruột kia vẫn như còn mới tinh, sức sống của văn chương, sức sống của sự việc không hề giảm đi mà còn có vẻ tăng thêm”. Hay như nhà nghiên cứu người Pháp R.Crayxắc nhận định, “Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du thật là một nền văn chương kiệt tác, tưởng có thể so sánh với những áng văn kiệt tác của bất cứ đời nào nước nào cũng không thua vậy”. Đúng là như thế, thử hỏi có bao nhiêu tác phẩm ở Việt Nam mà đến tận hơn hai trăm năm sau vẫn được hậu bối nhắc tới, vẫn được mọi người đem ra tranh cãi và bàn luận. Quả thật, nếu thiếu đi Truyện Kiều, nền văn học dân Việt Nam sẽ mất đi một viên ngọc quý mà không gì có thể thay thế được.

Đỗ Quỳnh Anh

Lớp 11C1 – Trường THPT Tĩnh Gia 2, Thanh Hóa

Bài viết liên quan