MS319 – Phân tích bài thơ Trao duyên của Nguyễn Du


Đề bài: Phân tích bài thơ Trao duyên của Nguyễn Du

Bài làm

“Tiếng thơ ai động đất trời

Nghe như non nước vọng lời ngàn thu

Ngàn năm sau nhớ Nguyễn Du

Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày”

Tố Hữu quả thật nhận xét không sai về tác phẩm tuyệt diệu cũng như tác giả Nguyễn Du. Dù đã trải qua hai tram năm nhưng không ai lại không biết đến đại thi hào Nguyễn Du hay truyện thơ “Đoạn trường tân thanh” được rất nhiều người Việt Nam thuộc vài câu, vài đoạn hay có khi là cả bài. Mỗi một câu thơ, mỗi một đoạn thơ đã gửi gắm biết bao nhân đạo sâu sắc qua từng số phận cuộc đời nhân vật. Và đoạn trích – bài thơ “Trao duyên” đã toát lên sự đau khổ giữa chữ tình và :

“Cậy em em có chịu lời

….. thiếp đã phụ chàng từ đây!"

Nguyễn Du tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, là nhà thơ nhân đạo chủ nghĩa tiêu biểu của Việt Nam thời trung đại. Ông sống trong thời kì lịch sử đầy biến động, xuất than trong một gia đình quý tộc nên hiểu được cuộc sống giàu sang, xa hoa của tầng lớp qun lại cùng với mười năm trải quan gian truân đã làm cho ông thông cảm hiểu hơn về cuộc đời. Từ những điều đó đã làm cho ngòi bút của ông ngày càng thêm đặc sắc.

Nhan đề đoạn trích là Trao duyên nhưng trớ trêu thay đây không phải là cảnh trao duyên thơ mộng của những đôi nam nữ mà ta thường gặp trong ca dao xưa. Có đọc mới hiểu được, “Trao duyên”, ở đây là gửi duyên, gửi tình của mình cho người khác, nhờ người khác chắp nối mối tình dang dở của mình. Thúy Kiều trước phút dấn thân vào quãng đời lưu lạc, thương cha, thương người tình, nghĩ mình không giữ trọn lời đính ước với người yêu, đã nhờ cậy em là Thúy Vân thay mình gắn bó với chàng Kim. Đoạn thơ không chỉ có chuyện trao duyên mà còn chất chứa bao tâm tư trĩu nặng của Thúy Kiều. Việc bán mình đã thu xếp xong xuôi, Kiều ngồi trắng đêm nghĩ về thân phận và tình yêu rồi nàng nhờ Thúy Vân thay mình kết duyên với em gái là Kim Trọng. Đoạn trích sau đây là lời Thúy Kiều nói cùng Thúy Vân.

Phan tich bai tho trao duyen - MS319 - Phân tích bài thơ Trao duyên của Nguyễn Du

Kiều bắt đầu câu chuyện với em bằng thái độ khẩn khoản, thiết tha, van nài. Lời lẽ của Kiều rất là khéo léo, thắt buộc điều này được thể hiện qua việc lựa chọn từ ngữ cực kì chính xác của Nguyễn Du.

“Cậy em em có chịu lời

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”

Tác giả dùng từ “cậy” chứ không phải là “nhờ”tuyệt vời chính xác và giàu sức biểu cảm. Cậy cũng có nghĩa là nhờ nhưng nó hàm chứa cả thái độ tin cậy, tin tưởng mà nhờ mà người được nhờ không thể khoái thác được. “chịu lời” chứ không phải là “nhận lời” có nghĩa là thông cảm mà nhận chứ không phải là hân hoan mà nhận. Ở đây có một sự bắt buộc chấp nhận, nài ép phải nhận không thể chối từ. Kiều còn tiếp tục ràng buộc em bằng lễ nghĩa: Kiều là chị mà “lạy em” mới dám thưa chuyện cùng em. Thái độ của Kiều lúc này rất khẩn trương và tha thiết. Thông thường, cái lạy của người bề dưới là hàm ơn, mang ơn nhưng đây lại là chị lạy em bao giờ! Kiều đã quyết nhún nhường trước em gái cho thấy mối tình với chàng Kim sâu nặng biết chừng nào! Vì câu chuyện sắp nói của Kiều là điều thiêng liêng hệ trọng.

Kiều tâm sự cho em nghe về tình yêu và hoàn cảnh trớ trêu của mình bằng dùng từ ngữ tế nhị, khéo léo, tác động vào nhận thức của Thúy Vân để em thấu hiếu và cảm thông:

“Giữa đường đứt gánh

Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”

Tình yêu sâu nặng thiết tha mãnh liệt đến vô cùng “gánh tương tư”. Tình yêu ấy giờ đây đã dang dở vô cùng “đứt gánh tương tư”. Mối tơ duyên của chàng Kim giờ đây là hoàn toàn do em định liệu. Kiều muốn em hiểu mình hoàn toàn bất lực trước hoàn cảnh trớ trêu. Cho nên hai từ “mặc em” đã hàm chứa bao xót xa đau đớn. Mọi chuyện xảy ra quá bất ngờ đã tạo nên một bầu không khí nghiêm trọng khiến Vân bối rối không thể chối từ những lời của Kiều.

>> Xem thêm:  MS283 - Suy nghĩ về câu chuyện Đại bàng tránh bão

Kiều tâm sự cho em hiểu nhưng lại kể vắn tắt về mối tình của mình – Kiều và Kim Trọng:

“Kể từ khi gặp chàng Kim

Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề”

Điệp từ “khi” với liệt kê. Kiều và Kim Trọng đã nhiều lần gặp gỡ, nhiều lần và hẹn ước với nhau thì làm sao mà nuốt lời cho được.

“Sự đâu song gió bất kì,

Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”

Chuyện gặp chàng Kim trong buổi chiều thanh minh. Chuyện kể nguyền hẹn ước với Kim Trọng. Chuyện sóng gió của gia đình. Nhưng có một chi tiết mà đối với cái trí bình thường của Thúy Vân không bao giờ biết được:

“Hiếu tình khôn dễ hai bề vẹn hai”

Qua lời Thúy Kiều, Nguyễn Du căm phẫn xã hội phong kiến thời xưa. Vì chữ “hiếu”, chữ “tình” là hai giá trị tinh thần quí giá không thể nào so sánh được. Một xã hội mà phải bắt lựa chọn những gì không thể thì đó là một xã hội tàn bạo. Thúy Kiều đã ngậm đắng nuốt cay lựa chọn chữ “hiếu” cho nên khi hi sinh chữ “tình”, nàng Kiều đã không còn tồn tại trên cõi đời này nữa, những lời mà bây giờ nàng thốt ra đã không còn là nước mắt mà là giọt máu rỉ ra chảy từ trong máu trái tim nàng, ăn mòn đi thể xác nàng. Sau những lời cho em hiểu, Kiều đã đề nghị chính thức:

“Ngày xuân em hãy còn dài,

Xót tình máu mủ thay lời nước non”

Lời lẽ của Kiều tha thiết bi thương. Kiều và Vân chỉ gần bằng tuổi nhau:

“Xuân xanh xấp xỉ tới tuần tập kê”

Vậy mà Kiều lại nói “Ngày xuân em hãy còn dài” – đau đớn biết chừng nào! Kiều nghĩ rằng Vân vẫn còn tuổi xuân, tương lai, hạnh phúc của em, tất cả đang chờ phía trước. Nói như vậy, Kiều thấy tương lai hạnh phúc của mình kể như là chấm dứt, nàng hi vọng xa vời về thanh xuân thơ mộng ngày nào phải bán mình chuộc cha, trao duyên cho kẻ khác. Lời nói của Kiều mang tính ràng buộc và hết sức logic:

“Xót tình máu mủ thay lời nước non”

Câu thơ được chia làm hai vế: vế này qui định vế kia và ngược lại. Em có thương xót cho chị, vì tình máu mủ ruột rà thì xin em nhận lời kết nghĩa với chàng Kim. Lời nói của Kiều thật thông minh và sắc sảo. Kiều còn lấy cái chết ra để còn ràng buộc em:

“Chị dù thịt nát xương mòn

Ngậm cười chin suối hãy còn thơm lây”

Trong thâm tâm của nàng vẫn mong Thúy vân và Kim Trọng được hạnh phúc cho nên dù nàng có sang thế giới bên kia cũng mãn nguyện. Kiều đã phải dồn nén con tim thổn thức xót xa của mình để nói những lời khéo léo, tinh tế, ràng buộc thuyết phục em. Những lời lẽ ấy thiêng liêng vô cùng là vì nàng lo cho chàng Kim, mong sao chàng được hạnh phúc. Trong đau khổ và tuyệt vọng thế mà nàng Kiều tài sắc còn lo cho hạnh phúc người khác quả thật vừa là một cô gái thông minh còn có đức hi sinh nhưng cũng rất đáng thương. Đoạn thơ đã thể hiện tài nang tuyệt vời của tác giả là tài năng ngôn ngữ tuyệt vời cùng với khả năng miêu tả nội tâm nhân vật chân thực, sâu sắc. Trong suốt cuộc đối thoại, Vân không nói được một lời nào, chỉ im lặng coi như là đã nhận lời. Biết em thuận lòng, Kiều liền lấy kỉ vật trao cho em:

“Chiếc vành với bức tờ mây

Duyên này thì giữ vật này của chung”

“Chiếc vành” là vật mà Kim Trọng trao cho nàng làm tín trong lần đầu gặp gỡ người yêu, trao lời yêu thương. “Bức tờ mây” là tờ giấy có hình mây ghi lời thề nguyền giữa hai người. Kỉ vật ghi lại bao của tình yêu thuở nào, nó hiện hình lên một cách rõ nét khiến nàng đau đớn vô cùng. Kiều không kìm nén lòng mình được nữa bởi đây là giây phút khó khan đối với Kiều vì trao kỉ vật tình yêu lại cho em cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận mất đi mối tình này. Trái tim Kiều thổn thức dao động, trào dâng. Ngòi bút của Nguyễn Du đã phát hiện ra sự nghịch lí của tâm trạng. Đó là sự mâu thuẫn giữa lí trí và tình cảm. Lí trí Kiều muốn trao đi, nhưng con tim muốn giữ lại duyên tình của mình.

>> Xem thêm:  Ca dao dân ca - Những câu hát về tình cảm gia đình

“Duyên này thì giữ vật này của chung”

Nửa vế đầu là tiếng nói của lí trí. Nửa vế sau là tiếng nói của tình cảm vỡ òa. Kiều không thể kìm nén con tim mình được nữa. Kiều trao duyên cho em. Sự dung rủi của số phận để trai gái gặp gỡ yêu thương đó là duyên vợ chồng. Nhưng Kiều không thể trao tình. Biết bao yêu thương đong đầy trong tình yêu, làm sao có thể trao được. Biết bao đau đớn giằng xé trong hai từ “của chung”. Kiều không thể chịu đựng nổi nếu mất tất cả. Cho nên kỉ vật kỉ vật xin được có phần của chị. Qua đó ta thấy vẻ đẹp tâm hồn của Kiều là tình yêu chân thành sâu sắc.

Sau khi trao kỉ vật cho Vân thì Kiều cảm thấy mình mất đi tất cả và mất mát trong tình yêu là quá lớn:

“Mai sau dù có bao giờ,

Đốt lò hương ấy so tơ phím này.

Trông ra ngọn cỏ lá cây,

Thấy hiu hiu gió thì hay chị về

Hồn con mang nặng lời thề,

Nát than bồ liễu đền ghì trúc mai.

Dạ đài cách mặt khuất lời,

Rưới xin giọt nước cho người thác oan.”

Trong đoạn thơ thời gian, không gian đã không còn xác định được nữa. "Ngày xưa", "mai sau". Hình ảnh âm điệu chập chờn ma quái. Thúy Kiều rằng nàng chỉ là hồn ma mang nặng lời thề, lời hẹn ước với Kim Trọng nên “dẫu thịt nát xương mòn” thì hồn nàng vẫn quanh quẩn với “ngọn cỏ lá cây”, với “hiu hiu gió”. Kiều cảm thấy mình như người mệnh bạc, người thác oan, Số phận của mình ngắn ngủi, bạc bẽo. Có lẽ Thúy Kiều đã dự cảm được tương lai của chính mình sau này tràn đầy nổi bất lực. Với Kiều có chết là chết thân xác còn trái tim của Kiều và tình yêu dành cho Kim Trọng mãi mãi bất tử với thời gian bằg linh hồn bất tử và tha thiết mong nhận được sự đồng cảm từ người yêu. Nguyễn Du miêu tả đặc sắc tâm trạng của Kiều: Kiều đau khổ, tiếng nói của con tim đã lấn át đi lí trí. Những chuyển biến tinh vi trong tâm trạng của Thúy Kiều, chứng tỏ nhà thơ là thiên tài trong phân tích tâm lí nhân vật. Ngôn ngữ độc thoại mà như độc thoại. Những mâu thuẫn trong tính cách của Kiều đã cho thấy bản chất thủy chung, son sắt của nàng.

“Bây giờ trăm gãy gương tan,

"Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!"

Và cuối cùng Kiều cũng quay về thực tại của đời mình. Cái thực tại ấy được thâu tóm qua hai từ "bây giờ". Thành ngữ "trâm gãy tương tan" thể hiện bao bi kịch của cuộc đời người con gái. Đó là sự tan vỡ, dở dang của tình yêu. Bi kịch càng trở nên sâu sắc khi nó hoàn toàn đối lập với quá khứ đẹp đẽ.

"Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!"

Có lẽ khát vọng tình yêu, những kỉ niệm về tình yêu ngọt ngào tha thiết vẫn cứ đong đầy. Không làm sao kể xiết "muôn vàn ái ân". Bao lần gặp gỡ, bao kỉ niệm, bao yêu thương trong trái tim làm sao Kiều có thể dễ dàng rũ bỏ tất cả cho được. Vì thế nỗi đau nó cứ tiếp tục trào dâng, càng tăng thêm gấp bội. Kiều như đang hướng về Kim Trọng, tâm sự với người yêu đang vắng mặt, mong muốn nhận sự cảm thông mà quên rằng trước mặt của mình là Thúy Vân.

>> Xem thêm:  Phân tích bài Ca dao hài hước

"Trăm nghìn gửi lạy tình quân

Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!"

Hai từ "trăm nghìn" là số từ chỉ số lượng không hạn định. Kiều muốn gửi đến Kim Trọng trăm nghìn cái lạy. Muốn tạ tội cùng Kim Trọng. Mong sự thông cảm và thấu hiểu từ Kim Trọng. Kiều cảm thấy mình có lỗi rất nhiều với Kim Trọng. Cảm thấy "Vì ta khăng khít cho người dở dang". Vì mình mà lỡ làng mối tơ duyên của chàng Kim. Trao duyên rồi nhờ em trả nghĩa cho chàng Kim rồi nhưng trái tim của Kiều vẫn đong đầy yêu thương và bao đau đớn giằng xé. Càng nặng tình với chàng Kim, Kiều càng đau đớn nghĩ về số phận bản thân.

"Phận sao phận bạc như vôi

Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng"

Hai chữ "phận" lặp lại trong cùng một câu thơ cộng với từ nghi vấn "sao" như sự chì chiết, đay nghiến số phận. Đau khổ giữa quá khứ ngọt ngào nhưng ngắn ngủi với hiện tại mất mát chia ly và đau thương chồng chất, Kiều đã ý thức rõ than phận của mình. Vì sao mình lại đẩy vào hoàn cảnh bạc bẽo đoạn trường. Hạnh phúc là của mình nhưng không được hưởng. Tất cả bi kịch cuộc đời như "nước chảy hoa trôi". Sự bạc bẽo của số phận nhấn mạnh qua thành ngữ "bạc như vôi". Chính tâm lí mặc cảm tội lỗi cao thượng đã tạo nên tiếng nấc tha thương thảm thiết:

"Ôi! Kim Lang! Hỡi Kim Lang!

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!"

Bao đau đớn đan xen bao yêu thương. Kiều gọi Kim Trọng bằng lời lẽ thân mật "tình quân Kim Lang". Các thán từ "ôi", "hỡi" làm lời thơ như tiếng nấc nghẹn thảm thiết. Kiều đã hi sinh cho bao người. Vậy mà giờ đây Kiều lại cho mình là người "phụ bạc". Nhận biết lỗi về mình mà không đỗ lỗi cho hoàn cảnh. Kiều nhận hết trách nhiệm về mình. Với từ "phụ" đã tô đậm lên vẻ đẹp nhân cách cao quý của Kiều. Khi nói về số phận bạc bẽo lênh đênh của Thúy Kiều, Nguyễn Du đồng thời lên án xã hội phong kiến, bất công, tàn bạo, vùi dập số phận người phụ nữ, đặc biệt người phụ nữ tài sắc như Kiều. Đọc đến đây chắc hẳn ai cũng thấy được Thúy Kiều yêu Kim Trọng hơn chính bản thân mình.

Qua đoạn trích, chúng ta được thúy Kiều là một cô gái giàu tình cảm, giàu đức hi sinh, có ý thức về tình yêu và cuộc sống. Sự hi sinh với tấm lòng hiếu thảo thì nổi đau khổ, ái ngại vì lời hẹn ước không tròn với Kim Trọng và trao duyên cho em là một biểu hiện của lòng vị tha, sự hi sinh đáng trân trọng, là tấm lòng thủy chung sắt son hiếm có trước sự bất lực của hoàn cảnh. Bằng trái tim yêu thương và đồng cảm hco , nGuyễn Du đã phê phán tố cáo xã hội phong kiến đã cướp đi quyền sống, quyền được hạnh phúc của người phụ nữ.

Không những thế, tác giả còn thành công đặc sắc về nghệ thuật. Ngòi bút tài tình của Nguyễn Du đã thể hiện sâu sắc những diễn biến tâm lí phức tạp của nhân vật, sự mâu thuẫn giữa lí trí và con tim. Hệ thống ngôn từ được một cách điêu luyện, độc đáo và chính xác Ngôn ngữ bậc học kết hợp với ngôn ngữ bình dân, kết hợp với điển tích điển cố đã làm cho lời thơ tự nhiên chân thực và xúc động. Nguyễn Du quả thật là bậc thầy về ngôn ngữ. Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng các biện pháp tu từ hiệu quả, giàu súc biểu cảm và gây ấnt ượng sâu sắc bằng phép điệp từ, điệp ngữ, biện pháp đối, liệt kê… Chính cái tài và cái tình của Nguyễn Du đã làm nên sức sống bền vững cho tráo duyên nói riêng và truyện Kiều nói chung.

Lê Hoàn Tú Nguyên

Lớp 11SV – Trường THPT Chuyên Nguyễn Quang Diệu, Đồng Tháp

Bài viết liên quan