MS539 – Phân tích bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn trãi


của Nguyễn trãi

Bài làm

Nguyễn Đăng Tĩnh đã từng nói: “Nước ta từ Đinh, Lí, Trần,… đời nào cũng có những anh hùng mở nước và giữ nước nhưng tìm một người toàn tài toàn đức như Ức Trai tiên sinh, thật là ít lắm”. Quả đúng là như vậy, dù là đối với Nguyễn Đăng Tĩnh hay cả vạn người, dù là triều Lê hay hàng trăm năm sau nữa, cái tên Nguyễn Trãi cũng vẫn luôn vang danh thiên cổ như một đấng hào kiệt, nhân tài hiếm có của dân tộc Việt Nam ta. Ông không chỉ là một anh hùng yêu nước thương dân mà còn là một nhà thơ, nhà văn kiệt xuất góp công lớn vào việc khai sáng và làm rực rỡ thêm nét đẹp Việt. Và cái tài xen lẫn cái tình, Nguyễn Trãi đã để lại cho hậu thế một kho tàng văn chương đồ sộ cả về số lượng, nội dung và tinh hoa . Một trong số đó chính là bài thơ “Cảnh ngày hè” nằm trong “Quốc Âm thi tập”.

phan tich canh ngay he cua nguyen trai - MS539 - Phân tích bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn trãi

Ảnh minh họa

Nguyễn Trãi một đời vì dân vì nước, cuộc đời ông gắn liền với sự ra đời và thịnh trị của triều đại nhà Lê. Thế nhưng, tiếc hờn thay cho tấm lòng kẻ trung quân ái quốc, chính vì những toan tính, mâu thuẫn nội bộ rối ren của triều đại phong kiến mà ông bị hàm oan và rồi phải lui về cáo ẩn tại đất Côn Sơn. Nhưng tuyệt nhiên, chưa bao giờ, tình yêu nước thương dân, yêu thiên nhiên cuộc sống của Nguyễn Trãi vụt tắt. Rời ra chốn quan trường, ông về với quê hương, về với nét bình dị, thân thương và về với những tứ thơ đầy chất họa của mình. Và rồi ông đã cho ra đời Quốc Âm thi tập – tập thơ Nôm cổ nhất và cũng là tập thơ đánh dấu mốc quan trọng cho bước phát triển của chữ Nôm thế kỷ XV. Gồm 254 bài với những cảnh riêng, những tình riêng nhưng tất cả đã tạo nên một Quốc Âm thi tập đầy tài hoa, đầy dung dị mà cũng đầy tinh tế. Và bài thơ số 43 – “Cảnh ngày hè” trong mục Bảo Kính cảnh giới của tập thơ chính là một minh chứng rõ nét nhất.

Lời thơ mở đầu giản dị, chân phương như một lời tự thuật:

Rồi hóng mát thuở ngày trường

“Rồi” thật hiếm khi cái từ ngữ chỉ sự nhàn nhã, thư thái ấy xuất hiện trong cuộc đời Nguyễn Trãi. Đặc biệt, kết hợp với “ngày trường” nghĩa là “ngày dài” ở cuối câu, nhà thơ như muốn nhấn mạnh thêm quãng thời gian trải dài đằng đẵng, rỗi rãi này. Đã quen với cái bận rộn lo toan đại sự khi còn trong triều Lê, giờ đây khi trở về với cuộc sống nông gia bình thường, dường như có một cái gì đó trống vắng trong ông, khiến ông cảm thấy hơi bất ngờ pha chút thích thú. Cái thích thú ấy đã thể hiện rõ trong bức tranh cảnh ngày hè.

>> Xem thêm:  Suy nghĩ về câu nói của Khổng Tử: Tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư yên

Cảnh ngày hè, cái thiên nhiên, cái thú điền viên ấy có gì tươi đẹp mà để Nguyễn Trãi yêu thích, từ bỏ cả vinh hiển nơi đô hội để trở về như vậy! Đẹp lắm, cái nét đẹp vừa mộc mạc lại rực rỡ của tự nhiên ấy qua ngòi bút của Nguyễn Trãi lại càng thêm nên thơ, bay bổng hơn. Thiên nhiên thật trù phú, lộng lẫy qua những gam màu đầy rạng rỡ. Là cái “lục đùn đùn” xanh ngát, tươi trẻ, tràn đầy nhựa sống của lá hòe xum xuê, tán giương lên che rợp trong:

Hòe lục đùn đùn tán rợp giương

Là sắc đỏ rực rỡ, đầy quyến rũ, ấn tượng của cành “thạch lựu” trước hiên nhà:

Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ

Và điểm xuyến cái nhẹ nhàng, tinh khôi của sắc hồng dịu dàng :

Hồng liên trì đã tiễn mùi hương

Đặc biệt, trong bức bích họa thiên nhiên đầy sức sống rực rỡ của mình Nguyễn Trãi không chỉ đem lại cho người đọc những thường thức đầy ấn tượng về thị giác mà còn cho ta những cảm nhận sâu sắc về hương thơm mộc mạc, tinh khiết nơi khứu giác:

Hồng liên trì đã tiễn mùi hương

Không chỉ đơn thuần là nét hồng cánh hoa mà đóa “liên trì” ấy còn mang lại nét nồng nàn hương hoa. Một nữ nhà thơ cùng thời với Nguyễn Trãi, Kim Hoa nữ học sĩ Ngô Chi Lan cũng đã từng viết về hoa sen:

Liên trì viễn cận hương (hương sen thơm thoang thoảng tỏa xung quanh)

Cùng là dịu nhẹ hương sen thế nhưng đóa sen của bà lại dịu dàng hơn, nhẹ bay tỏa ra trong không gian chứ không ngát hương nồng nàn như “hồng liên trì” của Nguyễn Trãi. Hương sen của Nguyễn Trãi còn “tiễn” tức là dư ra, gợi cho ta liên tưởng về những búp sen đang kì nở rộ rức rỡ nhất, cái sắc nhuộm tinh khôi một vùng nước và cái hương luyến lưu, hòa quyện nồng nàn trong không gian đất trời. Với việc tinh tế lựa chọn và sắp đặt cái động từ mạnh “đùn đùn”, “phun”, “tiễn”, Nguyễn Trãi đã thành công khắc họa nên một bức tranh thiên nhiên trù phú, tươi đẹp, rạng rỡ sắc hương sự sống và đồng thời thầm kín gửi vào trong đó sự say mê, ngưỡng mộ và tình yêu lớn lao ông dành cho thiên nhiên cuộc sống.

Bên cạnh bức tranh thiên nhiên đầy tươi đẹp chính là những hình ảnh , sinh hoạt đầy hứng khởi, dung dị của con người:

chợ cá làng ngư phủ

Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương

Các từ láy “lao xao”, “dắng dỏi” được đảo lên đầu câu như càng nhấn mạnh, tô đậm thêm nét trù phú, nhộn nhịp của cuộc sống nơi đây. Cái “chợ cá” luôn “lao xao” ồn ào tấp nập người tới người đi, kẻ mua kẻ bán những con cá, con tôm – thành quả lao động đầy tuyệt vời của những người chài lưới nơi “làng ngư phủ” đây. Và khi chiều buông, vãn cảng chợ phiên, tiếng mua bán đã dần tắt thì thay thế đó chính là tiếng ve râm ran, nhịp nhịp như những nốt nhạc trầm bổng của tiếng đàn cầm vang lên. Đứng trên “lầu tịch dương” nơi cao ngắm nhìn ánh cô tịch, bao trọn không gian, thu vào tầm mắt từng khoảnh khắc, lắng nghe từng hồi âm thanh trong trẻo của cuộc sống vang lên, cảm nhận được điều ấy, ta phần nào có thể đồng điệu với tâm hồn Nguyễn Trãi. Bên cạnh một Nguyễn Trãi – một Thái học sĩ đầy uyên bác, xuất chúng thì ông cũng chính là một người con đất Việt, yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, yêu những điều mộc mạc, giản dị của quê hương cội nguồn. Sáu câu đầu Nguyễn Trãi đã viết không chỉ là thơ mà còn là chất họa, chất nhạc, chất hương đậm đà trong những câu chữ của mình và Nguyễn Trãi, ông không chỉ là một thi sĩ đầy tinh tế, khéo léo trong việc sử dụng câu chữ, một họa sĩ đầy tài hoa trong việc khắc họa lên những gam màu đầy sáng rỡ của tự nhiên mà còn là một nhạc sĩ đầy nhạy cảm, lãng mạn khi tái hiện một cái chân thực những âm thanh tuyệt diệu của cuộc sống.

>> Xem thêm:  Cách làm bài văn lập luận giải thích

Cuộc đời của Nguyễn Trãi đã trải qua bao biến cố, bao thăng trầm, có lúc vinh hiển, được trăm quân nghĩa sĩ tôn thờ nhưng có lúc lại cơ hàn, đơn côi đến thê lương. Thế nhưng, trong ông vẫn luôn tâm niệm rằng:

Lụy ốc thê thân kham độ lão

Thương sinh tại niệm độc tiên ưu

Dù có già yếu, cơ cực vậy nhưng những thiếu thốn thể xác ấy không hề ảnh hưởng tới cái tâm, cái đau đáu trong lòng Nguyễn Trãi về nhân sinh, về cuộc sống nhân dân nước Đại Việt:

Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng

Ở đây. Nguyễn Trãi đã sử dụng một điển tích, điển tích veè cây đàn Nghêu Thuấn. Tương truyền, dưới hai triều đại Đường Nghêu và Ngu Thuấn, dân dân khắp nơi ấm no, sung túc, đất nước được thái bình thịnh trị. Ước mong của Nguyễn Trãi khi nhắc tới tích xưa là được giống như vua Nghêu Thuấn, có Ngu cầm để gảy lên một khúc Nam Phong cho dân giàu, nước mạnh, cho cuộc sống của nhân dân Đại Việt được ấm no, , khi ấy:

Dân giàu đủ khắp đòi phương

Khắp muôn nơi nhân dân sẽ đủ đầy, sung túc, sẽ chẳng còn phi nghĩa, chẳng còn đói khổ dai dẳng nữa. Đây cũng chính là cái đích, cái tư tưởng nhân nghĩa lớn lao mà cả cuộc đời mình Nguyễn Trãi luôn mong muốn được thực hiện: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Muốn cho dân giàu nước mạnh, muốn cho đất nước được thái bình thịnh trị, điều đầu tiên và cũng là cần thiết nhất chính là “yên dân” – dành cuộc sống ấm no, an lành cho nhân dân và vun đắp, dựng xây cho sự vững bền, kiên cố của nước nhà Đại Việt ta. Những câu thơ trước là thể thơ thất ngôn nhưng khi đến câu cuối Nguyễn Trãi đã rất tài hoa khi sử dụng lục ngôn. Câu thơ cuối ấy như dồn nén cảm xúc, kết lại những vần tự trên giấy nhưng lại mở ra một ước vọng lớn lao, cao cả sẽ vang vọng đến ngàn đời sau cua Nguyễn Trãi.

>> Xem thêm:  MS553 - Cảm nhận về tác phẩm Đàn ghi ta của Lorca của Thanh Thảo

Để tạo nên một bài thơ đầy tươi đẹp, trù phú và tài hoa cả về hình thức lẫn nội dung như Cảnh ngày hè, thì góp công lớn nhất, đó chính là những bút pháp nghệ thuật đầy tinh tế, sáng tạo của Nguyễn Trãi. Với cảnh thiên nhiên, ông sử dụng những hình ảnh hết sức gần gũi, thân thuộc kết hợp với động từ mạnh như vẽ lên một bức tranh động. Ở đó, thiên nhiên không ngừng chuyển mình, trỗi dậy và bừng lên những sức sống rạng rỡ đầy mạnh mẽ, tươi đẹp. Tới khung con người, thay vì lựa chọn những nét vẽ có thần điểm tô cho màu sắc thì Nguyễn Trãi đã sử dụng những từ láy miêu tả âm thanh, đặc biệt khi đảo ngữ những từ láy ấy lên đầu câu không chỉ nhấn mạnh sự nhộn nhịp, vui tươi của cuộc sống mà còn tạo nên giai điệu, chât nhạc của bài thơ. Và đặc sắc nghệ thuật lớn nhất không thể không kể tới sự tài hoa, khéo léo của Nguyễn Trãi khi ông đã Việt hóa thành công thể thơ Thất ngôn đường luật. Với thể thơ Thất ngôn đường luật vốn là truyền thống của Trung Quốc, ông đã phá bỏ những niêm luật khô cứng để thêm vào đó những dòng lục ngôn, phá bỏ khuôn phép: đề, thực, luận, kết bất di bất dịch để thay vào đó những dòng thơ đầy sáng tạo, uyển chuyển theo dòng cảm xúc của con người.

“Thời loạn thì dùng võ, thời bình thì dùng văn”, Nguyễn Trãi là một tướng tài văn võ song toàn hiếm có của lịch sử Việt Nam. Không còn là những sách lược táo bạo và lời thề sinh tử tạc khắc vào non sông nơi chiến trường, khi đã cởi bỏ áo giáp về với cuộc sống điền viên, Nguyễn Trãi mở rộng lòng hơn, hòa mình với thiên nhiên đất trời mà ông luôn gắn bó, yêu thương. Trong Cảnh ngày hè ông thả hồn vào thơ, dùng cả tình yêu thiên nhiên, cuộc sống và cả những tài hoa văn chương của mình để khắc họa lên một bức tranh cảnh ngày hè đầy rực rỡ, chân thực và đầy tuyệt đẹp của cảnh sắc, con người và tình người. Có thể nói, trong Cảnh Ngày Hè, Nguyễn Trãi đã rất thành công trong việc Việt hóa thể thơ Thất ngôn Đường luật đồng thời, biểu lộ sự trầm trồ, thích thú trước cảnh dẹp quê hương cuộc sống và nỗi niềm trăn trở khôn nguôi về nhân sinh, vận mệnh của nhà thơ.

Hà Ngọc Huế

Bài viết liên quan