Phân tích cảnh phố huyện lúc đêm khuya trong Hai đứa trẻ của Thạch Lam


cảnh phố huyện lúc đêm khuya trong của

Bài làm

“Văn chương không phải đem đến cho người đọc sự thoát li… mà trái lại văn chương là khí giới thanh cao để vừa tố cáo, vừa thay đổi thế giới “.

Đây được xem như một tuyên ngôn của Thạch Lam. Thạch Lam (1910-1942) là nhà văn chuyên viết truyện ngắn với lối đi riêng: truyện thường không có cốt truyện và các tình huống chủ yếu được xây dựng để thể hiện thế giới nội tâm của nhân vật. Tuy là nhà văn lãng mạn nhưng những sáng tác của ông vẫn không thoát li khỏi hiện thực đời sống. Vậy nên mới có sự kết hợp hài hòa giữa văn phong nhẹ nhàng, man mác chất thơ với xu hướng hiện thực thấm đượm lòng nhân ái. Tác phẩm “Hai đứa trẻ” trích từ tập “Nắng trong vườn” (1938) là minh chứng đắt giá cho tuyên ngôn này. Và cảnh phố huyện lúc đêm khuya trích từ tác phẩm là lát cắt về những kiếp người nơi đây, đồng thời cũng thể hiện được phong cách sáng tác của nhà văn.

Dường như không khí chung trong những truyện ngắn của ông thường mang nét buồn và “Hai đứa trẻ cũng không ngoại lệ. Truyện được mở ra bằng cảnh chiều tàn, hoàng hôn buông xuống, quê hiện lên yên bình, thân thuộc nhưng mang nét ảm đạm rồi dần khuất lấp trong màn đêm theo . Trong đêm tịch mịch, những mảnh đời “tranh tối tranh sáng”, bóng dáng nhân dan Việt trước cách mạng dần hiện rõ nét. Đó là chị Tí, bác Siêu, bác Xẩm, cụ Thi cùng với Liên và An,… Nếu bức tranh chiều hoàng hôn mang màu buồn thì khung cảnh thiên nhiên đêm khuya ở đây lại đầy thơ mộng: “Một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát”. Đọc những dòng văn đang chảy trên mạch cảm xúc êm dịu ấy đã vẽ nên trước mắt người đọc khung cảnh lãng mạn và mơ mộng nhưng cái hiện thực tàn khốc của xã hội đương thời lại làm chúng ta phải suy nghĩ. Thật, tuy văn Thạch Lam không sâu sắc bằng Khái Hưng, không điêu luyện bằng Nhất Linh, không rắn rỏi như Hoàng Đạo nhưng nó có sức lay động mạnh mẽ.

>> Xem thêm:  Hãy phân tích thiên nhiên trong hai bài thơ Cảnh khuya và Rằm tháng giêng của Hồ Chí Minh.

Nếu tinh tế quan sát cảnh phố huyện buổi đêm, ta dễ dàng nhận thấy sự đối lập giữa hai hình ảnh: bóng tối và ánh sáng. Bóng tối bao trùm toàn bộ tác phẩm, nó xuất hiện ngay từ đoạn văn mở đầu và lan ra cae thiên truyện. “Đường phố và các con ngõ chứa đầy bóng tối”, “tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông…”. Ngoài việc tả thực- đêm đen đầy ám ảnh thì cái cảnh phố huyện chìm trong màn đêm làm ta liên tưởng tới xã hội nước nhà đương thời- một chế độ bất công, xơ xác, đói nghèo không dứt.

Tuy nhiên, đêm dù tối đến rợn ngợp vẫn còn tồn tại nhiều nguồn sáng nhưng nhỏ nhoi và yếu ớt. Ánh sáng hắt ra từ những cửa hàng, chỉ “ hé ra một khe sáng”; những ngôi sao xa xăm đang “lấp lánh” và cả tia sáng của lũ đom đóm đang “bay là là”. Quầng sáng thân mật quanh ngọn đèn chị Tí, ngọn lửa nhỏ từ chiếc bếp bác Siêu hay ngọn đèn của Liên “thưa thớt từng hột sáng”. Mỗi mảnh đời nơi đây đều gắn với một nguồn sáng nhưng nhỏ yếu nên nó không xua tan được bóng tối dày đặc. Sự xuất hiện của ánh sáng càng giúp ta thấm thía về sự nhỏ bé của kiếp người mong manh. Hai hình ảnh đối lập này đã tạo nên nét riêng, độc đáo cho tác phẩm.

>> Xem thêm:  Bài 14 - Chuẩn mực sử dụng từ

Bằng ngòi bút hiện thực nhân đạo, trong cảnh đên mịt mù, nhà văn đã khắc họa nên của , từng nét vẽ lấp lánh chủ nghĩa nhân văn.

Nhân vật đầu tiên là mẹ con chị Tí với cái hàng nước “chẳng kiếm được bai nhiêu”. Ban ngày, chị mò cua bắt tép, tối đêns lại ra đây dọn hàng kiếm vài đồng hào nuôi gia đình. Chị bán cho những lính lệ, phu gạo, phu xe “cao hứng vào hàng chị uống”.Sự sống mà phải dựa vào sự “cao hứng” của người khác, nghe thôi đã thấy đau đớn và xót xa. Chị là nhân vật điển hình cho một mảnh đời lay lắt, ngoi ngóp nơi phố huyện.

Đến bác Siêu với gánh phở của mình hi vọng sẽ kiếm được chút gì để tồn tại. Thế nhưng “ở cái huyện nhỏ này,quà bác Siêu là thứ quà xa xỉ” vì vậy, nguy cơ ế hàng rất cao. Cuộc sống chẳng khấm khá hơn mà ngày càng tụt dốc, lụi đi.

Tiếp đó là gia đình bác Xẩm dùng lời ca tiếng hát kiếm sống. Nhưng ở nơi mà cái ăn cái mặc còn chẳng có thì ai đâu mà đi thưởng thức âm nhạc? Thế nên gia đình bác đành mãi sống chung với đói nghèo.

Không thể bỏ quên bà cụ Thi điên- hình ảnh đầy sức ám ảnh với cái dáng đi lảo đảo cùng tiếng cười “khanh khách”. Cụ là người phát ra tiếng cười duy nhất trong tác phẩm nhưng nụ cười ấy nửa ngây nửa tỉnh. Tiếng cười hay cũng là nổi đau chẳng thể kết thành nước mắt. Và tuy là bà điên nhưng cụ vẫn không quên lời cảm ơn “A em Liên thảo nhỉ. Hôm nay lại rót đầy cho chị đây”. Phải chăng đây là sản phẩm của một kiếp sống mòn mỏi, quẩn quanh?

Nhân vật cuối: Liên và An- mảnh đời vô cùng đáng thương.Hai chị em từng có cuộc sống hạnh phúc chốn Hà thành nhưng do bố mất việc nên đành chuyển về đây sống. Hai em được mẹ giao trông coi cái sạp hàng nhỏ, tuy chẳng lời bao nhiêu nhưng cũng là khoản thu nhập thêm. Liên giàu tình cảm, luôn đồng cảm và san sẻ với mọi người xung quanh.

>> Xem thêm:  Phân tích các yếu tố từ ngữ, phép lặp cú pháp, nhịp điệu trong các dòng thơ trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

Cảnh sống nơi phố huyện không ồn ào mà như đã nói trước đó, đây chỉ như một lát cắt của những mảnh đời có nhịp sống lặp lại nhàm tẻ. Cuộc sống ấy tù mù như ngọn đèn chị Tí vậy, chẳng hứa hẹn gì tươi sáng ở tương lai. Nhưng họ không mất niềm tin mà “chừng ấy con người trong bóng tối mong đợi một cái gì đó tươi sáng”. Với lối viết nhẹ nhàng, cốt truyện đơn giản, Thạch Lam đã đưa độc giả qua nhiều cung bậc cảm xúc từ mơ mộng, ám ảnh đến tội nghiệp cho bao kiếp lầm than

“Nghệ thuật và cuộc sống là đường tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người”. ()

Bức tranh phố huyện nói riêng và “Hai đứa trẻ” nói chung tựa đoạn phim tư liệu ngắn về những con người lầm than nơi ga xép nhỏ, một cuộc sống tù đọng, quẩn quanh. Khung phần nào tỏ rõ quan niệm sáng tác của tác giả: hiện thực đan xen trữ tình. Nhà văn đã kín đáo gửi đến độc giả thông điệp đầy ý nghĩa: đừng để cuộc sống của chúng ta rơi vào cái “ao đời phẳng lặng” mà hãy vươn ra ánh sáng và không ngừng ước mơ bởi “Cuộc đời có một bầu trời còn ta có một đôi cánh” (Trần Đăng Khoa). Mỗi chúng ta đều có riêng cho mình một đôi cánh để bay cao, bay đến những ước mơ, những hy vọng về tương lai.

Bài viết liên quan