Truyện ngắn Làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp


Truyện ngắn Làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp

Bài làm

Người nông dân là một đề tài, một nguồn cảm hứng bất tận của các nhà văn nhà thơ nhất là trong các cuộc kháng chiến, những cuộc vệ quốc vĩ đại. Một trong những cái tên tiêu biểu và thành công nhất trong lĩnh vực này, ông được mệnh danh là ” nhà văn của những người nông dân ” không ai khác chính là Kim Lân. Nhắc đến Kim Lân thì không thể không nhắc đến nhân vật ông Hai trong tác phẩm ” Làng ” đình đám, tác phẩm thể hiện tư tưởng nhân sinh sâu sắc để lại cho người đọc nhiều suy ngẫm. Trong ” Làng ” Kim Lân đã tái hiện thành công hình ảnh người nông dân và những chuyển biến mới mẻ trong tình cảm của họ vào thời kì kháng chiến chống Pháp.

Nhà văn Kim Lân sinh ra và lớn lên ở vùng đất Kinh Bắc, gắn bó sâu sắc với đời sống nên ông hiểu hơn ai hết những tư tưởng tình cảm suy nghĩ của người nông dân lúc bấy giờ. Từ đó có những cảm nhận tinh tế đối với đời sống vật chất cũng như tinh thần của họ. Ông sáng tác ” Làng ” trong những năm 1948 – thời kì đầu của cuộc kháng chiến chông Pháp với bối cảnh là cuộc tản cư của người dân. Câu chuyện xoay quanh nhân vật ông Hai, vì nằm trong vùng giặc nên làng Chợ Dầu của ông phải tản cư, tuy vậy nhưng tình cảm ông dành cho làng luôn bền chặt thắm thiết. Với ” Làng ” Kim Lân đã xây dựng, đặt ông Hai vao không những một mà đến ba tình huống vô cùng đặc sắc và kịch tính. Để rồi qua đó làm nổi bật lên làng xóm, yêu nước sau sắc, lòng tin tưởng vào Cách mạng vào kháng chiến hi vọng về một ngày mai của ông Hai nói riêng và toàn thể nhân dân Việt Nam nới chung. Nhà văn I-li-a Eren-bua đã có câu nói nổi tiếng :” Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào dải trường giang Von-ga đi ra biển. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ Quốc “. Thật vậy và đó cũng chính là chủ đề tư tưởng mà kim Lân muốn truyền đạt với người đọc qua tác phẩm ” Làng”. Ở ông Hai trước hết là làng, yêu quý gắn bó sâu đậm với làng sau là rộng ra yêu nước, yêu cách mạng yêu cụ Hồ. Đó chính là một bước phát triển tiến bộ vượt bậc là nét mới trong tự tưởng tình cảm của người nông dân lúc bấy giờ.

Khi đi tản cư, xa ông ngày nào cũng nhớ làng, ngóng trông tin tức của làng. Ông đi đâu cũng khoe về làng, tự hào về phong trào cách mạng ở . Sống ở nơi tản cư, ngày nào ông cũng nghĩ đến làng, ông nhớ về những ngày làm việc cùng anh em, cùng tham gia kháng chiến, ông thấy mình bỗng như trẻ ra. Rồi ông lại tự hỏi không biết cái chòi gác ở đầu làng đã dựng xong chưa. ” Chao ôi ! Ông lão nhớ làng, nhớ cái làng quá “. Bên cạnh đó ông còn ngày ngày ra phòng thông tin để mong nghe ngóng được chút tin kháng chiến, những trận trắng của quân ta, những dũng cảm, hy sinh vì Tổ Quốc của các anh e bộ đội. Tuy không biết chữ nhưng không ngày nào là ông không ra, ông đứng đó vờ như đang đọc nhưng thực ra chỉ đang chờ có người tới đọc rồi nghe thôi. Cứ mỗi khi nghe được trận thắng của quân ta dù nhỏ đi chăng nữa thì trong lòng ông vẫn không khỏi reo lên xuýt xoa thầm khen ngợi thán phục ” Ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá ! “. Ông lão bước ra khỏi phòng thông tin với vẻ vui mừng phấn khởi và mãn nguyện không giấu đi đâu được. Qua đó cho ta thấy rõ tấm lòng yêu làng sâu đậm trong tim của ông Hai. Dù ở nơi xa nhưng vẫn luôn theo dõi, trông ngóng tin tức kháng chiến và niềm hi vọng to lớn về một ngày đất nước được giải phóng, ông được trở về sum họp với anh em ở cái làng Chợ Dầu biết mấy thân yêu ấy.

Tuy nhiên tình yêu làng của ông Hai trong những dòng văn tiếp theo nó không còn là tình yêu làng đơn thuần, không còn là nỗi nhớ làng, tự hào về làng nữa mà nó đã phát triển lên một tầm cao mới đó là tình yêu nước. Cách mạng tháng 8 thành công, nhân dân giác ngộ được lí tưởng cách mạng, trung thành tuyệt đối với cách mạng, với Tổ Quốc. Chính vì vậy khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc, phản bội Tổ Quốc, phản bội cụ Hồ tuy rất đau đớn nhưng ông vẫn quyết gạt cái tình yêu làng của mình sang một bên đi theo tiếng gọi của đất nước của Cách mạng, không biến mình vì một tình yêu làng mà trở thành kẻ bán nước, Việt gian theo Tây. Bởi ông biết rõ tình yêu làng của mình chỏ là một phần nhỏ vô cùng nhỏ của đất nước, ông hi sinh điều đó để hướng tới một ngày mai tươi đẹp hơn ông dứt khoát :” Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. Tuy nhiên đây không phải là ông không yêu làng của mình nữa, ông vẫn yêu yêu nhiều lắm chứ nhưng cái ông yêu là cái làng Chợ Dầu ‘truyền thống’ cái làng ‘ quyết tâm một sống một còn với giặc’ chứ không phải cái làng Việt gian theo Tây kia. Ta có thể thấy trong tác phẩm khi nghe người đàn bà dưới xuôi thông báo cái tin đột ngột kia ông Hai tuy có bàng hoàng, có sửng sốt nhưng ông không hoàn toàn tin. Việc ông hỏi lại người đàn bà kia một lần nữa và việc ông kiểm điểm lại từng người khi ở nhà đã khẳng định rằng ông không tin cái làng Chợ Dầu yêu quý của mình lại theo Tây. Ông cố suy nghĩ cố tìm một cái lí do để biện minh cho làng mình cố bám lấy hi vọng tin rằng làng mình trong sạch. Nhưng cuối cùng cái suy nghĩ đó đã phải chấm dứt vì người ta kể quá rành rọt lại còn chỉ đích danh cả thằng Bệu- người làng ông nữa, ông không thể không tin. Đầu óc ông cả ngày mơ hồ tâm trí luôn ám ảnh cái tin dữ kia trong lòng thì luôn thấp thỏm chột dạ lo âu. Làng thì theo Tây chỗ tản cư thì bị người ta đánh tiếng đuổi đi, lại không biết đi nơi nào mà làm gì còn nơi nào nữa mà đi. Ông Hai khổ sở đau đớn dằn vặt suốt mấy ngày trời, phân vân chọn lựa hoặc là làng và trở thành kẻ bán nước mà ông luôn căm phẫn hoặc là nước. Cuối cùng ông đi đến quyết định:” Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. Rồi ông lại tâm sự với đứa con út ngây thơ của mình. Nói là tâm sự nhưng thật chất là ông đang thanh minh cho chính mình, ông mong ” Anh em đồng chí biết cho bố con ông ” , ” Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông đây”. Hình ảnh đứa con giơ tay nói:” Ủng hộ cụ muôn năm ” lại càng như tiếp thêm cho ông sức mạnh, tin tưởng vào sự lựa chọn của mình. Từ việc đặt nhân vật ông Hai vào tình huống mang tính thử thách khó khăn, kìm kẹp như vậy, Kim Lân đã cho thấy được phẩm chất đáng quý của ông Hai, thấy được tình yêu làng đã hòa quyện thống nhất với tình yêu nước, yêu nước cũng chính là yêu làng. Vì thế xét theo một góc độ nào đó thì lựa chọn của ông Hai không phải là phản bội làng mà đó chính là tình yêu làng, ông yêu làng yêu nước nhưng làng theo Tây thì phải thù. Đây chính là những chuyển biến mới trong nhận thức của người nông dân gian đoạn này – biến tình yêu nhà yêu làng xóm thành yêu nước vĩ địa và nếu cần thiết có thể bỏ nhà bỏ làng xóm để đi theo tiếng gọi của Tổ Quốc thiêng liêng vì một ngày mai độc lập, vì tự do cho nhân dân.

>> Xem thêm:  Những bài văn phát biểu cảm nghĩ hay

Tuy nhiên đến cuối cùng may mắn vẫn tìm đến ông Hai. Trong lúc ông đang rất đau đớn tuyệt vọng, tự dằn vặt bản thân, khi mà cuộc chiến nội tâm diễn ra gay cấn phức tạp, tim ông như rơi xuống đáy vực thì may thay ông chủ tịch làng Chợ Dầu lên cải chính cái tin tức sai sự thật kia đồng thời thông báo nhà ông Hai không may đã bị giặc đốt rụi. Lúc này niềm vui sướng trong ông to lớn vô cùng, không từ gì diễn tả hết được. Trái tim ông như sống lại, cơ thể ông như được hồi sinh, dáng vẻ vui vẻ hoạt bát khi xưa đã trở lại. Nhà bị đốt ông cũng mặc kệ, chỉ cần biết làng ông không theo giắc, không làm Việt gian, khoogn bán nước, vẫn rất ” tinh thần “, quyết ” một sống một còn với giặc” thế à đủ quá đủ rồi. Ông sung sướng chạy đi khoe với bác Thứ với mọi người vui mừng hệt như đứa trẻ con được cho kẹo vậy. Việc ông kể rành rọt về trận chống càn ở Chợ Dầu tuy chỉ nghe nói qua nhưng ông kể hệt như chính ông vừa thám gia đánh giặc trận ấy về vậy đã thể hiện rõ tinh thần kháng chiến mãnh liệt và niềm tin, niềm tự niềm tự hào, lòng yêu làng sâu sắc của ông Hai. Qua đó lại một một nữa khẳng định tình yêu làng yêu quê hương vô cùng sâu đậm to lớn của ông Hai. Nhưng bây giờ sau khi trải qua tình huống kia nó đã không còn là một tình yêu làng đơn thuần nữa mà nó là đã hòa làm một trở thành tình yêu nước vĩ đại. Nếu so với nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao và trong truyện ngăn ” ” của ta có thể thấy được ở ông Hai có những điểm tiến bộ vượt bậc hơn trong nhận thức tâm hồn tình cảm. Đó là nhờ sự giác ngộ của Đảng và Cách mạng. Họ có những đặc điểm tính cách khác nhau song đều là những người nông dân nghèo hiền lành chất phác.

Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại, nhân dân ta còn bỡ ngỡ lạ lẫm nhưng sau dần khi nhận được những đường lối chỉ đạo sáng suốt của các vị tướng, sau này là của Đảng của cụ Hồ thì cảm giác lạ lẫm kia không còn nữa mà thay vào đó là sự hăm hở tích cực sẵn sàng chiến đấu sẵn sàng hy sinh. Đó cũng chính là khi đất nước rẽ sang một bước ngoặc lớn và của người nông dân cũng có bước phát triển hơn. Người người từ khắp tỉnh thành nô nức hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng hăng hái tham gia cách mạng, nguyện đổ máu vì nước. Càng về sau sự chuyển biến trong tư tưởng tình cảm của những người nông dân ấy càng rõ rệt mà điển hình là ông Hai. Cách mạng tháng 8 đã thổi bùng lên trong họ ngọn lửa đấu tranh, khát khao tự do hòa bình. Nếu ngày trước là hình ảnh của những người nông dân khổ nhục, khiếp sợ trước bọn giặc cướp nước cam tâm khuất phục chịu bị cướp nhà cướp ruộng thì bây giờ họ đã khoát lên mình quân phục với lòng quyết tâm giữ làng giữ nước. Lòng yêu nước nồng nàn, khát khao bảo vệ làng xóm bảo vệ người thân đã thúc giục họ phải đứng lên chống lại cái ác dù cái giá phải trả là cả sinh mạng. Như bác Hồ đã từng nói :” Chúng ta thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước không chịu làm nô lệ”. Lời kêu gọi hào hùng năm ấy đã đem lại một cuộc đời mới cho biết bao người dân đất Việt. Tóm lại từ nỗi sợ, sự khuất phục cam chịu người nông dân đã biến dần cái suy nghĩ mục nát ấy thành 1 tư tưởng tiến bộ phát triển hơn đó là đứng lên đấu tranh giành lại tự do giành lại hòa bình vốn là của mình. Tuy người Việt Nam ta trình độ văn hóa có thể thấp nhưng ý thức giác ngộ lại rất cao, điển hình như ông Hai. Từ tình yêu làng nhỏ bé thành tình yêu nước to lớn vĩ đại, ông dứt khoát gạt phắc đi làng chấp nhận thù làng khi làng theo Tây. Chính vì có những con người cao thượng giàu như thế mà hóa bình ngày hôm nay mới được lập nên. Bằng hình ảnh ông Hai Kim Lân đã truyền đạt đến cho ta tư tưởng nhân sinh sâu sắc như vậy đấy. Trong hoàn cảnh cả dân tộc đang hướng về cuộc háng chiến chống Pháp bào vệ độc lập dân tộc thì ông Hai đã biết đặt tình yêu nước lên trên tình yêu cá nhân của mình với làng Chợ Dầu. Ông dành tất cả cho Cách mạng, từ bỏ cả cái làng Chợ Dầu mà ông yêu quí nhất, đó chính là vẻ đẹp trong con người ông Hai nói riêng và toàn thể dân tộc Việt Nam nói chung.

Hai số thành công lớn nhất của ” Làng ” đó là xấy dựng tình huống truyện độc đáo và nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật đa dạng. Kim Lân chọn và xây dựng tình huống hết sức đặc sắc cùng với tài miêu tả nội tâm phong phú đã khắc họa nên chân dung của một người nông dân hiền hậu và giàu lòng yêu quê hương đất nước. Đây cũng là một vấn đề được khá nhiều thi sĩ quan tâm và làm nổi bậc lúc bấy giờ : mở rộng và thống nhất giữa tình yêu quê hương và yêu đất nước. Trải qua hơn 1000 năm phong kiến đô hộ người dân ta đã có những suy nghĩ, tư tưởng vượt bậc, tân tiến mà nổi bật là sau Cách mạng tháng 8 thành công. Nhân vật ông Hai trong truyện ngắn ” Làng ” của Kim Lân chính là ví dụ điển hình nhất cho vấn đề này.

>> Xem thêm:  Qua văn bản Bài toán dân số, hãy rút ta kết luận về mối quan hệ giữa dân số và sự phát triển xã hội?

Bài viết liên quan