[Văn mẫu học trò] Phân tích khổ 3 bài thơ Tây tiến của Quang Dũng


[Văn mẫu học trò] Phân tích khổ 3 bài thơ Tây tiến của Quang Dũng

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài:

– Quang Dũng là nhà thơ nổi tiếng của nền văn học Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp.

– Bài thơ Tây Tiến nỗi nhớ đất và con người Tây Bắc, kỉ niệm một thời chiến đấu.

– Khổ 3: Bức chân dung người lính Tây Tiến.

2. Thân bài:

Hoàn cảnh sáng tác:

Khi Quang Dũng rời xa đơn vị, chuyển sang đơn vị khác ở Phù Lưu Chanh.

Khái quát về đoàn binh Tây Tiến

– Lực lượng: Thanh niên, học sinh, tri thức Hà Nội
– Nhiệm vụ: Phối hợp với bộ đội Việt Lào bảo vệ biên giới, đánh tiêu hao sinh lực địch ở thượng Lào và

– Điều kiện sinh hoạt, chiến đấu: Nguy hiểm, gian khổ, khó khăn.

Bức chân dung người lính Tây Tiến.

 Vẻ đẹp lẫm liệt, hào hùng: Bút pháp lãng mạn khiến chân dung người lính Tây Tiến toát lên vẻ đẹp phi thường, khác lạ:

“Tây tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm.”

– Đoàn binh không mọc tóc: Thế chủ động, ngang tàn, ngạo nghễ của người lính.

Hiện thực chiến tranh: Đầu không mọc được tóc.

– Quân xanh màu lá: Màu xanh của sức trẻ, của thanh xuan, màu xanh của sự sống,..

Hiện thực chiến tranh: Da xanh xao

=> Hiện thực tàn khốc: Những ngừi lính Tây Tiến ăn đói mặc rét, gian khổ, khó khăn đến cùng cực, và bệnh sốt rét hoành hành khiến họ phải xanh da, trụi tóc.

-Mượn hình ảnh ẩn dụ để gợi tả chất kiêu hùng: đối lập giữa cái yếu đuối về thể chất ( xanh xao tiều tụy) là sức mạnh của tinh thần, ý chí, ngang tàn, lẫm liệt ( “ dữ oai hùm”).

Vẻ đẹp hào hoa, lãng mạn: “Mắt trừng gởi mộng qua biên giới” : khí thế và quyết tâm của người lính Tây Tiến. Nỗi nhớ  quê hương sâu sắc.

Sự hi sinh cao cả của người lính Tây Tiến

Tác giả nói về cái chết nhưng không hề bi lụy.

– “Mồ viễn xứ” là những nấm mồ ở những nơi xa vắng hoang lạnh.

-“Chảng tiếc đời xanh”: Ra đi không hẹn ngày về, hi sinh cả tuổi trả cả thanh xuân.

– “Anh về đất” Nói giảm nói tránh, sự hóa thân cho đất nước của người lính.

– Sông Mã gầm lên khúc độc hành: Lời chào, lời tạm biệt, tiếng gầm đau khổ, cô độc, tiếng khóc thương những người lính.

3. Kết bài:

 Khẳng định lại giá trị của đoạn thơ cùng sức sống của bài thơ và tác giả.

phan tich kho 3 bai tho tay tien cua quang dung - [Văn mẫu học trò] Phân tích khổ 3 bài thơ Tây tiến của Quang Dũng

Phân tích khổ 3 bài thơ Tây tiến

Bài văn tham khảo

Đề tài người lính là một đề tài vốn đã quen thuoohc trong thi ca. Hình tượng người lính là trung tâm của cái đẹp, là linh hồn, là sức mạnh cả một dân tộc. Không ít lần ta bắt gặp hìarnharnh người lính qua những trang văn, trang thơ đi vào lịch sử, Một người lính chân chất thông quê trong Đồng chí của Chính Hữu, một người chiến sĩ nặng ân tình trong Việt Bắc hay người chiến sĩ với dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỉ của Lê Anh Xuân. Thế nhưng, khi tái hiện lại hình ảnh quen thuộc này, Quang Dũng vẫn tạo nên một bức tượng đài vô cùng mới mẻ về người lính Tây Tiến. Qua khổ 3 có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa vẻ đẹp tâm hồn, lý tưởng chiến đấu và phẩm chất hy sinh anh dũng của họ.

>> Xem thêm:  Phân tích bị kịch tinh thần của nhà văn Hộ trong tác phẩm “Đời thừa” của Nam Cao- văn lớp 12

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc động hành

Tây Tiến vừa là chí hướng hành quân, vừa là tên đơn vị quân đội được thành lập năm 1947. Tây Tiến có nhiệm vụ phối hợp với bộ độ Việt Lào bảo vệ khu vực biên giới đồng thời đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp ở Thượng Lào cũng như ở phía Tây Bắc Bộ. Chiến sĩ Tây Tiến phần lớn là sinh viên, học sinh, tri thức trẻ hà thành. Hộ tạm ‘Gác bút nghiên theo việc đao cung’. Họ sống và chiến đấu trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, gian khổ, thiếu thốn thuốc men, vật chất,.. bệnh tật hoành hành khiến da xanh, tóc rụng,.. Năm 1948, Quang Dũng rời xa đơn vị, trở về đơn vị khác. Viết về Tây Tiến chính là viết về một đọan đời của thi nhân, đoạn kí ức hào hùng về một thời chiến đấu anh dũng. Cả bài thơ như cơn sóng của nõi nhớ đổ về, bo ấn tượng về đất, về người Tây Bắc.

Qua khổ 3, chân dung đoàn binh Tây Tiến được chạm khắc bằng nét bút vừa hiện thực vừa lãng mạn. Đó là hình ảnh một đoàn binh với vẻ ngoài oai phong, lẫm liệt nhưng bên trong lại mang vẻ hào hoa, đa tình. Họ ra đi không hẹn ngày về, họ coi cái chết ‘ nhẹ tựa hồng mao.’ Hình ảnh đoàn quân Tây Tiến hiện lên với những nét vẽ cụ thể, gân guốc và rạch ròi mà mỗi khi đề cập đến sự can trường của các chiến binh người ta vẫn thường nói như vậy:

“Những giọt mồ hôi rơi

Trên má anh vàng nghệ

Ôi anh vệ quốc quân

Sao mà yêu đến thế”

Trong thơ Quang Dũng, hình ảnh đoàn binh Tây Tiến được tả hoàn toàn thực.

 “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm.”

Đó là hiện thực khốc liệt về chiến tranh, đó là một sự thực trần trụi. người lính Tây Tiến hoạt động ở vùng rừng núi hiểm trở mà người ta vẫn gọi là nơi rừng thiêng nước độc, chết vì bom đạn thì ít mà chết vì bệnh tật thì nhiều. Hiện thực đó khiến những người lính ‘đầu không mọc tóc’, ‘xa xanh màu lá’. Quang Dũng dùng từ “đoàn binh không mọc tóc” chứ không dùng “đoàn binh rụng tóc” có lẽ do những người lính của chúng ta chủ động để đầu trọc để chiến đấu.  Còn nhắc đến quân xanh, ta có thể hiểu đó là màu xanh của áo, màu xanh của lá ngụy trang cũng có thể là màu xanh làn da vì thiếu máu, vì bệnh tật. Dường như, những người lính chủ động để đầu trọc để dễ dàng đánh giáp lá cà với địch.  Những người lính qua cái nhìn của Quang Dũng lại trở nên oai phong, dữ dằn, lẫm liệt như những con hổ chốn rừng thiêng . Hai câu thơ đã đề cập đến một hiện thực, đó là căn bệnh sốt rét hiểm nghèo mà người lính thường mắc phải . Nhà thơ Chính Hữu trong bài Đồng chí cũng đề cập đến căn bệnh này :

>> Xem thêm:  Cảm nghĩ về hình ảnh người bà trong bài thơ Tiếng gà trưa

“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi” .

 Quang Dũng trong bài thơ cũng không che giấu những gian khổ, khó khăn, căn bệnh quái ác đó và sự hi sinh lớn lao của người lính tây tiến , nhưng hiện thực nghiệt ngã ấy lại được nhìn qua một tâm hồn lãng mạn.

Không chỉ vậy, những người lính Tây Tiến còn mang vẻ đẹp, hào hoa, đa tình. Bởi họ đều là những chàng trai, những sinh viên, học sinh, tri thức trẻ hà thành tạm gác đèn sách lên đường ra đi bao vệ đất nước.

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.”

Dáng kiều thơm” ấy phải chăng ấy chính là vầng sáng lung linh trong kí ức của người lính tài hoa này, tất cả đã ngấm ngầm tố cáo rõ ràng nét đa tình của người lính. Các chàng trai Tây Tiến với đôi mắt thao thức “trừng” lên quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ nhưng trái tim vẫn để dành chỗ cho những dáng kiều thơm chốn Hà thành, những người em, những người bạn gái thân thương quê nhà. Quang Dũng với cái nhìn nhiều chiều, đã khắc hoạ chân dung người lính không chỉ ở dáng vẻ bên ngoài mà còn thể hiện được thế giới nội tâm, tâm hồn mộng mơ lãng mạn, phong phú của họ.

“Cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi” ý muốn nói rằng xưa nay đi chiến trận, mấy ai trở về và hình ảnh các chiến sĩ Tây Tiến cũng không khỏi tránh phải những mất mát, hi sinh trên đường hành quân:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.”

Hàng loạt các từ Hán Việt được tác giả sử dụng: áo bào, mồ, biên cương, viễn xứ tạo cho đoạn thơ sự cổ kính, trang nghiêm. Âm điệu câu thơ lúc này đây cũng lại chợt trầm và trùng xuống để độc giả thấy rõ hơn bản chất của sự việc thật sâu sắc. Tất cả giống như một cảnh phim đượccố ý quay chậm lại. Thực sự cũng chẳng còn gì thiêng liêng và cao cả hơn sự hi sinh, sự chấp nhận gian khổ của người lính. Những người lính ra đi chiến đâu, họ không ngại khổ, ngại khó, ngại hiểm nguy, họ ra đi không hẹn ngày trở về. Họ chiến đấu và hi sinh nơi chiến trường xa vắng.

>> Xem thêm:  Kể một câu chuyện em đã được nghe hoặc được đọc về một người có tấm lòng nhân hậu

Tiếp đến với hai câu thơ cuối trong khổ thơ thứ 3 này cũng lại tiếp tục âm hưởng bi tráng, tô đậm thêm sự mất mát hi sinh nhưng thực sự đó lại là một cái chết cao đẹp – đó là một cái chết bất tử của người lính Tây Tiến.

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.”

Áo bào là đồ dùng của vua chúa thời xưa, nó phần nào làm trang trọng hóa cái chết của người lính Tây Tiến. Không dừng lại ở đó, qua câu thơ “ Áo bào thay chiếu anh về đất” Quang dũng cũng đã nói nên đượcc một hiện thực khắc nghiệt về chiến tranh, đó là sự thiếu thốn. Những người lính ra đi không có một manh chiếu bọc thây, họ sống và chiến đấu thiếu thốn, ngay cả khi chết đi rồi vẫn phải chịu cảnh thiếu thốn. Hình ảnh “Anh về đất” có sử dụng biện pháp nghệ thuật nói giảm nói tránh. Những người lính ra đi là về với đất mẹ, đất mẹ hiền từ ôm và bao bọc lấy thây các anh, hay dường như đó là sự hóa thân cho dáng hình xứ sở, khi đó các anh thực hiện xong nghĩa vụ quang vinh của mình cống hiến cho đất nước. Người lính Tây Tiến ra đi khiến cho tiếng gầm của con sông Mã về xuôi như loạt đại bác rền vang hơn. Tiếng thét như vĩnh biệt những người con yêu của giống nòi. Có thể nói trước đây, khi nhắc đến những dòng thơ này thì người ta chỉ thấy những biểu hiện nào là mộng rớt, nào là buồn rơi…

Nửa thế kỉ đã qua, bài thơ Tây Tiến ngày một thêm sáng giá và đoạn thơ khắc họa đoàn quân Tây Tiến đã trở thành một hoài niệm khó quên của một thời kì lịch sử hào hùng trong buổi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Từ sự kết hợp một cách hài hoà giữa cái nhìn hiện thực với cảm hứng lãng mạn, QDũng đã dựng lên bức chân dung , một bức tượng đài người lính cách mạng vừa chân thực vừa có sức khái quát, tiêu biểu cho vẻ đẹp sức mạnh dân tộc ta trong thời đại mới, thời đại cả dân tộc đứng lên làm cuộc kháng chiến.

Nguyễn Thị Thu Trang

Bài viết liên quan