Bài 6 – Cảnh ngày xuân


Bài 6 – Cảnh

Hướng dẫn

I. VỊ TRÍ ĐOẠN TRÍCH

Đây là đoạn tiếp liền sau đoạn miêu tả vẻ đẹp . Đoạn này trong tiết thanh minh, hai chị em Kiều du xuân.

II. BỐ CỤC

a) Bốn câu đầu: Khung .

b) Tám câu tiếp: Khung cảnh lễ hội trong tiết thanh minh.

c) Sáu câu cuối: Cảnh chị em Kiều chơi xuân trở về.

II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

1) Khung cảnh ngày xuân

Bốn câu thơ đầu tiên gợi lên khung cảnh mùa xuân:

“Ngày xuân con én đưa thoi,

Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi

Cỏ non xanh rợn chân trời,

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.”

Ý câu đầu là ngày xuân thấm thoát đi qua mau như cái thoi dệt cửi. Do cái thoi thường làm giống như hình con chim én. Vì thế có người hiểu là câu đầu ngày xuân chim én bay đi bay lại chao liệng như con thoi đưa về vừa ngụ ý tiếc ngày xuân đi qua nhanh quá. Như thế hai câu đầu nói vừa gợi tả không gian mùa xuân.

Hai câu thơ còn lại là một bức họa tuyệt đẹp:

“Cỏ non xanh rợn chân trời,

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

Bát ngát trải rộng đến tận chân trời là thảm cỏ non xanh rợn. Đó chính là gam màu nền của bức tranh ngày xuân tươi đẹp. Trên nền thảm xanh non ấy điểm xuyết một vài cánh hoa lê trắng. Màu sắc của bức tranh kết hợp hài hòa tuyệt diệu. Tất cả cho thấy mùa xuân ở đây thật mới mẻ, thanh tân, dạt dào sức sống với một không khí trong trẻo thanh thoát nhẹ nhàng. Từ điểm làm cho bức tranh thêm sinh động có hồn.

>> Xem thêm:  Bài 16 - Ôn tập phần tập làm văn (tiếp theo)

Bốn câu thơ trên có thể diễn xuôi:

Ngày xuân thấm thoát qua mau như cái thoi dệt cửi. Mùa xuân có chín mươi ngày thì sáu mươi ngày đã qua rồi. Một màu cỏ non xanh rợn tới chân trời. Trên nền xanh của cỏ là một cành lê với một vài bông hoa điểm trắng.

2) Khung cảnh lễ hội trong tiết thanh minh

Tám câu thơ kế tiếp gợi lên khung cành lễ hội trong tiết thanh minh:

“Thanh minh trong tiết tháng ba

Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh

Gần xa nô nức yến anh

Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân

Dập dìu tài tử giai nhân

Ngựa xe như nước, áo quần như nêm

Ngổn ngang gò đống kéo lên

Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay”.

Hai câu đầu cho biết trong ngày thanh minh có hai hoạt động chính diễn ra: một là tảo mộ, đi thăm mộ, sửa sang quét tước, dọn dẹp khu mộ của , hai là đạp thanh, giẫm lên cỏ xanh, nghĩa là đi chơi xuân ở chốn đồng quê.

Trong sáu câu còn lại tác giả sử dụng một loạt từ ghép là tính từ, danh từ, động từ: gần xa, yến anh, chị em, tài tử, nô nức, dập dìu cho không khí lề hội thật tưng bừng rộn rã.

– Các từ ghép là danh từ như yến anh, tài tử, giai nhân cho thấy sự đông đủ vui vẻ, rất nhiều người dự hội.

>> Xem thêm:  Bài 22 - Con cò

– Các từ ghép là động từ như sắm sửa, dập dìu gợi tả sự náo nhiệt rộn ràng của ngày lễ hội.

– Từ ghép là tính từ như “gần xa nô nức” thể hiện rõ hơn tâm trạng mọi người đi hội. “Nô nức yến anh” là lối ẩn dụ cho thấy người dự hội lũ lượt như chim én, chim oanh từng đàn bay liệng ríu ran.

Qua cuộc chơi xuân của chị em Thúy Kiều, đã khắc họa hình ảnh một truyền thống văn hóa lễ hội xa xưa. Trong ngày thanh minh, khí trời mát mẻ trong trèo, người ta đua nhau sắm sửa lễ vật đô đi lễ tảo mộ, sắm sửa áo quần xênh xang, tươm tất để đi dự hội đạp thanh. Người ta rắc vàng vó, đốt tiền giấy hàng mã để tưởng niệm người thân đã mất.

3) Cảnh chị em Kiều du xuân trở về

Sáu câu thơ còn lại gợi tả cành chị em Kiều du xuân trở về:

“Tà tà bóng ngả về Tây

Chị em tha thẩn giang tay ra về

Bước dần theo ngọn tiểu khê,

Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.

Nao nao dòng nước uốn quanh,

Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”.

Cảnh vật, không khí mùa xuân trong sáu câu này so với bốn câu thơ đầu ít nhiều có khác. Cái không khí rộn rã, náo nhiệt của lễ tảo mộ, hội đạp thanh đã hết, mọi thứ đều lắng xuống nhạt dần lúc này, cảnh vật từ nắng nhạt, khe nước nhỏ, nhịp cầu bắc ngang vẫn giữ nét thanh dịu của mùa xuân với mọi chuyển động nhẹ nhàng, mặt trời ngã bóng dần về Tây, bước người thơ thẩn, dòng nước uốn quanh. Nhưng thời gian cũng khác, không gian cũng khác. Nếu cảnh mùa xuân ở bốn câu đầu là cảnh lúc vào hội thì ở đây sáu câu cuối là cảnh buổi chiều lúc tan hội. Tâm trạng của lúc này cũng khác. Những từ láy “tà”, “thanh thanh”, “nao nao” đâu chỉ là tả cảnh mà còn ngụ tình. Hai chữ “nao nao”, (Nao nao dòng nước uốn quanh) tạo nên một cảm giác bâng khuâng xao xuyến cần thiết để tiếp đó Kiều sẽ gặp mộ Đạm Tiên, gặp gỡ Kim Trọng, chàng thư sinh “phong tư tài mạo tót vời".

Ghi nhớ: (Sách giáo khoa)

Đoạn thơ là bức tranh thiên nhiên, lễ hội mùa xuân tươi đẹp trong sáng được gợi lên qua từ ngữ bút pháp nghệ thuật giàu chất tạo hình.

Mai Thu

>> Xem thêm:  Bài 12 - Luyện tập viết đoạn văn tự sự có sử dụng yếu tố nghị luận

Bài viết liên quan