MS560 – Suy nghĩ về câu nói của Vôn te: Thơ là nhạc của tâm hồn. Nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm


Đề bài: Suy nghĩ về câu nói của Vôn te: Thơ là nhạc của tâm hồn. Nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm

Bài làm

Bằng Việt cho rằng: “Tiêu chuẩn vĩnh cữu của thơ ca là cảm xúc”. Cây không thể thiếu gốc, cũng như vây thơ ca không thể thiếu đi cốt tủy của riêng mình. Cái cốt lõi quan trọng ấy của một tác phẩm thơ chính là tình cảm, cảm xúc. Có thể nói, tình cảm, tâm hồn nhà thơ là yếu tố quyết định giá trị và tầm cỡ nghệ thuật. Quyện hòa trong nồng nàn cháy bỏng, trong tình đồng chí đồng đội gắn bó thân thương; Xuân Quỳnh và đã thể hiện những tâm hồn và xúc cảm mãnh liệt, chân thật nhất của trái tim mình. Để từ đó, làm nên một “Sóng” rất đỗi đắm say và một ân tình sâu nặng. Cùng nói về yếu tố tình cảm, tâm hồn người nghệ sĩ qua tác phẩm thơ, Vôn-Te cho rằng: “Thơ là nhạc của tâm hồn. Nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm.”

“Thơ là nhạc của tâm hồn”, “nhạc” ở đây là tổng hòa những giai điệu, thanh âm, tiết tấu có khả năng gọi dậy cảm xúc trong lòng người. Nói “Thơ là nhạc của tâm hồn” có nghĩa thơ ca là nơi kết tinh những giai điệu, cảm xúc của , nhất là tâm hồn nghệ sĩ. Thế nhưng, tâm hồn trong thơ không đơn thuần hay mờ nhạt, mà đó phải là “tâm hồn cao cả, đa cảm”- những tâm hồn chứa đựng chiều sâu cảm xúc, tư tưởng, tình cảm sâu nặng, mãnh liệt và đầy tính nhân văn. Nhận định của Vônte đã khẳng định vai trò của yếu tố tình cảm, cảm xúc trong thơ, đồng thời đề cập đến thiên chức người cầm bút đó là phải có tâm hồn nhạy bén, sâu sắc và rung cảm mãnh liệt trước hiện thực đời sống, từ đó mới tạo nên những tác phẩm nghệ thuật giá trị.

ms560 suy nghi ve cau noi cua von te tho la nhac cua tam hon nhat la nhung tam hon cao - MS560 - Suy nghĩ về câu nói của Vôn te: Thơ là nhạc của tâm hồn. Nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm

Thơ ca là tiếng nói của tâm hồn, của tình cảm con người. Thơ lấy điểm tựa là sự bộc lộ thế giới nội tâm, tình cảm của nhà thơ, thể hiện rung cảm sâu đậm của trái tim thi sĩ trước cuộc đời. Cảm xúc đóng vai trò quyết định trong thơ ca: “Thơ là nhạc của tâm hồn. Nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm.” Tính nhạc trong thơ được tạo nên bởi những âm hưởng gắn liền với hình ảnh, cảm xúc do sự phối hợp hài hòa của âm thanh, nhịp điệu, từ ngữ,… phù hợp với nội dung tư tưởng, tình cảm được biểu đạt qua tác phẩm. Thơ là sự thăng hoa nồng cháy của cảm xúc, “Thơ là người thư ký trung thành của những trái tim” (Duybray). Tâm hồn nhà thơ càng cao cả, đa cảm thì nghệ thuật,  càng có sức lay động lòng người, bất tử hóa với . Thi ca khởi sự từ tâm hồn cũng đồng thời là nơi soi chiếu và phản ánh tâm hồn nghệ sĩ đến với người đọc, nó đòi hỏi một nền tảng vững chắc bắt rễ từ cảm xúc chân thật của nhà thơ. Bởi lẽ, tâm hồn nhạy cảm xuất phát từ chính trái tim nồng nàn cảm xúc của thi nhân, chuyển hóa đối tượng khách quan thành chủ quan, đến mức tưởng chừng như chính mình đã sinh ra cái khách quan ấy. Hơn nữa, tình cảm trong thơ không chỉ đơn thuần là thứ tình cảm vui, buồn, ghét, yêu mờ nhạt; đó phải là những phút giây, những khoảnh khắc mà người nghệ sĩ hòa mình với cuộc đời, nếm trải cuộc sống, vượt lên trên những vị kỉ , những thứ tình cảm tầm thường, vụn vặt. Nghệ thuật không chấp nhận thứ tình cảm giả mạo nếu nhà thơ không viết nên bằng máu và nước mắt của chính mình, lúc đó tác phẩm sẽ thiếu đi sức sống, chỉ là những dòng thơ vô hồn, những câu chữ được ép khô trên trang giấy. Thế mới nói Thơ là nhạc của tâm hồn. Nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm.”( Vôn Te)

>> Xem thêm:  MS449 - Nghị luận xã hội về vấn đề an toàn giao thông trong xã hội

Có thể nói, gốc của văn chương, nghệ thuật là tình cảm. Nghĩa là,  người nghệ sĩ phải biết rung cảm trước hiện thực của đời sống thì mới sáng tạo nên nghệ thuật. có câu: “Xúc động hồn thơ cho ngòi bút có thần”. Cái “Xúc động hồn thơ” ấy không phải nhà thơ nào cũng làm đươc; vậy nên những tác phẩm thơ chân chính, giá trị luôn phải xuất phát từ chính tâm tư, tình cảm của tác giả. Việt Bắc của Tố Hữu là một trong những tác phẩm có “thần”, có “hồn”, chứa đựng nhiều cảm xúc chân thật của thi nhân, cảm xúc ấy như kết tinh lại khung cảnh buổi chia tay đầy ân tình:

“Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn.”

Cặp đại từ nhân xưng “Mình-ta” thật gần gũi, thân thuộc biết bao! Tố Hữu đã chọn lối đối đáp giao duyên, xưng hô vợ-chồng để đưa vào thơ ca rất đỗi nhẹ nhàng, thân thiết. “Mình-ta” ấy chính là mối quan hệ gắn bó keo sơn, mật thiết giữa đồng chí cách mạng và đồng bào, người người lính về xuôi và nhân dân Việt Bắc ân nặng nghĩa tình. “Mười lăm năm” ấy, chứ không phải mười lăm năm nào khác. Không chỉ gợi lại kỉ niệm kháng chiến nơi núi rứng Việt Bắc, đó còn là sự nhắc nhở, mong mỏi cả người đi lẫn kẻ ở đừng bao giờ quên đi khoảng thời gian mười lăm năm trường kì đã kề vai sát cánh bên nhau, đồng cam cộng khổ; anh dũng chiến đấu, hi sinh, xả thân vì độc lập dân tộc, bình yên Tổ Quốc. Hơn nữa, đã cùng nhau chia ngọt sẻ bùi “miếng cơm chấm muối” chẳng phải rất gần gũi, gắn bó hay sao? Nhắc lại kỉ niệm khó quên ấy, nhà thơ khéo léo khuyên răn mọi người về đạo lý “” của dân tộc ta. Câu hỏi tu từ “có nhớ không?” đã dánh động vào tiềm thức cán bộ cách mạng, dù cho họ có trở về với “ánh điện, cửa gương” , quen với ánh đèn đô thị cũng đừng quên đã có một chiến khu đáng nhớ, đáng trân trọng nuôi dưỡng tâm hồn họ trong những khoảng thời gian “mười lăm năm ấy”. Cây, núi, sông, nguồn,.. là cảnh vật, là thiên nhiên Việt Bắc  hay chính là con người Việt Bắc chân thất thật thà? Dường như nhà thơ đã viết nên những dòng này bằng chính tâm tư, tình cảm của mình về giai đoạn kháng chiến cứu nước.

>> Xem thêm:  MS537 - Hãy tưởng tượng mình gặp gỡ và trò chuyện với người lính lái xe trong tác phẩm "Bài thơ tiểu đội xe không kính" của Phạm Tiến Duật. Viết bài văn kể lại cuộc gặp gỡ và trò chuyện đó.

Tâm trạng thương mến, phút giây quyến luyến, bịn rịn không muốn rời người ra đi của đồng bào Việt Bắc càng tô đậm thêm phẩm chất , nghĩa tình nơi đây. Trong khoảnh khắc chia tay ấy, xuất hiện hình ảnh “áo chàm” như là một biểu tượng của Việt Bắc, con người Việt Bắc là thế, dù cách mạng hay nhân dân cũng đều mộc mạc, giản dị, chân chất. Màu áo phải chăng là màu của tình nghĩa thủy chung, son sắt không phai mờ theo năm tháng. Động từ “cầm tay” trong câu thơ “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…” đã kết tinh mọi vẻ đẹp thăng hoa của cảm xúc, hình ảnh ấy có thể nói là hình ảnh đẹp nhất, sáng nhất giữa bức tranh chia tay đầy cảm xúc lắng đọng. “Cầm tay” là một sự kì vọng, tin tưởng của nhân dân Việt Bắc dành cho cán bộ cách mạng và ngược lại. Trong phút giây đặc biệt ấy, cảm xúc dường như đã lên ngôi, làm chủ tình huống, ngôn ngữ trở nên thừa thãi, cũng chẳng diễn tả hết được tâm trạng hay cung bậc tình cảm khác nhau, thì một cái “cầm tay” siết chặt nồng ấm đã nói lên tất cả những ý nghĩ, suy tư, trăn trở và tình cảm mà con người Việt Bắc đã dành cho nhau. Dấu ba chấm đặt cuối câu thơ như sự nối dài vô tận của âm thanh không lời, tạo nên một khoảng lặng trầm tĩnh của cảm xúc, để lại dư âm ngân vang trong lòng người. Dù cho người ra đi và kẻ ở lại có xa xôi cách mấy về không gian địa lý thì tấm lòng, tư tưởng họ luôn nghĩ về nhau, nhớ đến nhau và nắm bắt từng cảm nhận chân thực và sâu sắc của nhau. Với những dòng thơ chứa chan cảm xúc, Tố Hữu đã khắc họa nên khung cảnh buổi chia tay đầy tâm trạng sâu lắng, ân tình; phút giây mà tình cảm lên ngôi và trở nên vô nghĩa. Đọc những dòng thơ này, ta cảm nhận Việt Bắc như một bản tình ca mà Tố Hữu đã dành trọn tâm huyết và rung cảm để viết nên, từ đó càng thấm thía hơn câu nói của Vônte: “Thơ là nhạc của tâm hồn. Nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm.”

>> Xem thêm:  Tập đọc: Mùa thảo quả

Nếu như Tố Hữu dẫn dắt người đọc đến với khu rừng Việt Bắc cùng dòng cảm xúc sâu lặng, quyến luyến, sâu nặng khôn nguôi, thì nữ sĩ Xuân Quỳnh lại thể hiện một tâm hồn nhạy cảm, rung động khi yêu với từng cung bậc từ nhẹ nhàng, đằm thắm đến dữ dội, điên cuồng. Sóng, dòng chảy miên man lại chính là hình tượng để “em” suy nghĩ về yêu.

Nguyễn Thị Hoa 

Bài viết liên quan