Phân tích Chị em Thúy Kiều từ “Kiều càng sắc sảo mặn mà… Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân”


từ “Kiều càng sắc sảo mặn mà… Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân”

Bài làm

là đại thi hào của dân tộc, niềm tự hào của đất nước với “con mắt trông thấu sáu cõi và tấm lòng nghĩ tới muôn đời”. Tác phẩm đã làm nên tên tuổi của ông chính là , một kiệt tác có sức sống bền bỉ muôn đời. Và một trong những đoạn trích đặc sắc nhất có thể kể đến là đoạn phân tích vẻ đẹp và tài năng của Thúy Kiều mà em đã được học trong chương trình Ngữ Văn lớp 9:

“Kiều càng sắc sảo mặn mà

So bề tài sắc lại là phần hơn

Làn thu thủy nét xuân sơn

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh

Một hai nghiêng nước nghiêng thành

Sắc đành đòi một, tài đành họa hai

Thông minh vốn sẵn tính trời

Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm

Cung thương làu bậc ngũ âm

Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một chương

Khúc nhà tay lựa nên chương

Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân”

Mở đầu đoạn trích là phần miêu tả khái quát về vẻ đẹp rung động lòng người của nàng Kiều:

“Kiều càng sắc sảo mặn mà

So bề tài sắc lại là phần hơn”

Sở dĩ tác giả để nhân vật chính, Kiều, được khắc họa sau người em Thúy Vân, không phải để nàng chịu thua kém mà ngược lại, làm nổi bật sắc đẹp vốn có của nàng. Với nhãn tự “càng”và từ “hơn”, Nguyễn Du đã rất thành công trong việc sử dụng thủ pháp đòn bẩy, dùng Thúy Vân làm bước đệm cho Kiều càng tỏa sáng. Thúy Vân đã là một người con gái xinh đẹp tuyệt trần thế nhưng Kiều lại “càng” kiều diễm, mĩ lệ, vượt trội trên cả hai phương diện: sắc và tài. Sắc đẹp tuyệt đỉnh ấy đã được tác giả mô tả bằng hai từ “sắc sảo”, “mặn mà”. “Sắc sảo” nghĩa là tinh khôn, thông minh. “Mặn mà” ý chỉ nét đẹp trong tâm hồn, là sự chín chắn, trưởng thành của một người “phụ nữ” chứ không còn là một “thiếu nữ” nữa . Thân là chị cả, Kiều cũng sẽ trải nghiệm đời sống, tiếp xúc với mọi người nhiều hơn Thúy Vân cũng là lẽ thường tình. Từ đây ta nhận ra những nét đẹp trong Kiều từ trí tuệ đến tâm hồn đều được biểu hiện rất rõ ràng qua phong thái, dung nhan toàn vẹn của nàng và cũng hiểu ra tác giả đã ngầm khẳng định Kiều là nhân vật trung tâm của câu chuyện.

>> Xem thêm:  Tuần 1 - Viết bài làm văn số 1: Nghị luận xã hội

Với hai câu tiếp theo, Nguyễn Du đã khắc họa về nhan sắc của nàng một cách cụ thể:

“Làn thu thủy nét xuân sơn

Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”

Ở đây tác giả đã sử dụng một bút pháp độc đáo của phương Đông cổ điển, chính là “lấy điểm để tả diện” hay “vẽ mây nảy trăng”, ý chỉ nếu muốn tả một vầng trăng sáng, không cần phải tả trăng, chỉ cần cho người khác thấy những đám mây xung quanh lấp lánh dát vàng, người đọc sẽ tự hiểu rằng mặt trăng sáng thế nào. Tương tự vậy, nếu muốn tả một người con gái đẹp, chỉ cần tả những nét tiêu biểu nhất là đủ. Với Thúy Kiều, đôi mắt “cánh cửa sổ tâm hồn” và hàng lông mày là bộ phận ánh lên vẻ xinh đẹp và sắc sảo nhất. Thật vậy, bằng những hình ảnh ước lệ tượng trưng, ta thấy được đôi mắt trong trẻo, long lanh của Kiều như “làn thu thủy”, tức nước . Tại sao lại là ? Vì thu là mùa thơ mộng nhất trong năm khi bầu trời cao vời vợi, xanh biếc nên lúc ấy làn nước thu cũng là đẹp đẽ nhất. Còn hàng mày của nàng lại thanh tú như “nét xuân sơn”, nghĩa là rặng núi đầy sức sống. Hai thứ này kết hợp lại với nhau tạo nên dung nhan mê người đến mức thiên nhiên cũng phải đố kị mà ta nhận thấy qua từ “hoa ghen”, “liễu hờn”. Điều đó cho thấy sắc đẹp của nàng đã phi thường, vượt trội đến mức vượt ra ngoài quy luật tự nhiên khiến tạo hóa phải ghen ghét.

Không chỉ có sắc đẹp diễm lệ mà Kiều còn có tài năng hơn người. Điều đó được thể hiện qua hai câu tiếp theo:

“Một hai nghiêng nước nghiêng thành

Sắc đành đòi một, tài đành họa hai”

Với một câu thành ngữ: “nghiêng nước nghiêng thành”, Nguyễn Du đã nói lên hết nhan sắc xuất chúng của Kiều. Có người cho rằng thành ngữ này lấy từ điển tích về nàng Tây Thi, một trong tứ đại mĩ nhân. Tương truyền, vì sắc đẹp trời ban, nên Tây Thi đã làm vua Trung Quốc thần hồn điên đảo, để cuối cùng nước mất nhà tan. Nhưng cũng có người cho rằng, thành ngữ này lấy ý tứ từ bài “Giai nhân ca” của Lý Diên Niên đời Hán:

>> Xem thêm:  Đọc thêm: Tiếng hát con tàu

“Nhất cố khuynh nhân thành

Tái cố khuynh nhân quốc”

Dù là với cách giải thích nào thì ý nghĩa của thành ngữ này vậy, “nghiêng nước”(khuynh quốc) “nghiêng thành” (khuynh thành) để chỉ sắc đẹp của bậc mĩ nhân có thể làm khuynh đảo cả một quốc gia. Cùng số từ “một”, “hai” và biện pháp phóng đại, ta hiểu được ý của cả câu thơ là sắc đẹp “chim sa cá lặn” của Thúy Kiều thu hút đên nỗi dù chỉ với một, hai cái nhìn thì đến cả vua chúa cũng phải si mê mà “nghiêng nước nghiêng thành”. “Sắc đành đòi một” tức là ngoài Kiều ra nhan sắc tuyệt đẹp ấy chẳng một ai có thể sở hữu, “tài đành họa hai” nghĩa là họa may, họa chăng mới có người thứ hai tài năng được như nàng. Thế mới hiểu, cái tài và cái sắc của Kiều là không chỉ vượt tầm thiên nhiên mà còn là độc nhất vô nhị, khó ai có được.

Để hiểu rõ hết cái tài hoa của nàng Kiều, ta phải phân tích các câu sau:

“Thông minh vốn sẵn tính trời

Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm”

Sở dĩ Thúy Kiều có được tài năng như vậy một phần cũng do sự ưu ái mà trời đất ban tặng. Cái tài của nàng là cái bẩm sinh, thiên phú mà không phải ai cũng có được. Từ đó ta thấy được sự vượt trội, nổi bật rõ rệt của nàng so với những cô gái khác thời bấy giờ. Chưa hết, nàng lại sành sõi cả 4 môn nghệ thuật: “thi”, “họa”, “ca”, “ngâm”. “Thi” là văn chương, “họa” là vẽ tranh, “ca” là ca hát, “ngâm” là ngâm thơ. Như vậy, Kiều vừa làm nên những áng thơ hay, vừa giỏi hội họa, vừa hát tuyệt vời mà đến ngâm thơ cũng biết. Thế mới nói, nàng tài giỏi trong mọi lĩnh vực, phương diện, không gì là không tài giỏi. Thậm chí, ngay cả đến âm nhạc, Kiều cũng không thua kém một ai:

“Cung thương làu bậc ngũ âm

Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương”

Về nhạc lí và hệ thống âm nhạc của Trung Quốc “ngũ âm”, nàng đã tinh thông đến mức “làu làu”. Không chỉ thông tuệ lí thuyết, Kiều còn biết áp dụng vào thực hành, đánh đàn hồ cầm một cách điêu luyện. Cái thông thạo đó được thể hiện qua từ “nghề”. Không phải biết chơi vài nốt đã là “nghề”. “Nghề” chỉ sự thuần thục, nhuần nhuyễn đã phải rèn luyện qua một quá trình dài. Ở đây muốn nói, Kiều đã đạt đến cái đỉnh cao của chơi đàn hồ cầm, có được sự tài hoa khi chơi đàn, “ăn đứt” những nghệ sĩ khác.

>> Xem thêm:  Sự sống nảy sinh từ trong cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh, gian khổ, ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy...

Không những chơi đàn giỏi, Kiều còn biết sáng tác nhạc:

“Khúc nhà tay lựa nên chương

Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân”

Kiều có thể sáng tác ra những khúc nhạc buồn mà điển hình ở đây là “Bạc mệnh”. “Bạc mệnh” vốn là tên bản đàn do Kiều nghĩ ra, nhưng đồng thời cũng là từ ngữ chỉ số phận bạc bẽo, khổ đau. Kiều có tài đến mức, bản nhạc của nàng chạm đến trái tim người nghe, khiến cho ai cũng phải buồn bã, sầu não. Ở đây, Nguyễn Du đã có ẩn ý về số phận sau này của Kiều, cũng chính là “Bạc mệnh”. Số phận Kiều như bèo dạt mây trôi, đầy gian truân, sóng gió. Điều này cũng là dễ hiểu vì Thúy Kiều quá đỗi xinh đẹp và tài năng mà theo Nho giáo như Nguyễn Du đã đề cập từ đầu tác phẩm thì nàng chỉ có thể gặp bất hạnh:

“Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”

Tóm lại, đoạn trích trên đã sử dụng thành công rực rỡ nghệ thuật ước lệ tượng trưng để gợi tả vẻ đẹp và tính cách riêng của hai chị em Thúy Kiều, Thúy Vân. Qua đó cũng thể hiện sự trân trọng sắc đẹp, ca ngợi tài năng và phẩm hạnh của và dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh.

Truyện Kiều chính là viên ngọc sáng giá trong nền Việt Nam. Thật không ngoa khi nhà văn Phạm Quỳnh nhân xét:”Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”, và cũng không ngẫu nhiên mà Nguyễn Du là danh nhân văn hóa thế giới. Tác phẩm chắc chắn sẽ sống mãi với và mang in dấu ấn sâu đậm trong tim bao thế hệ người đọc

Bài viết liên quan