Tuần 13 – Tỏ lòng (Thuật hoài)


Tuần 13 – ()

Hướng dẫn

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

1. Hào khí Đông A

Hào khí Đông A là hào khí thời Trần (chữ Đông và chữ A trong tiếng Hán ghép lại thành chữ Trần). Cụm từ này từ lâu đã được dùng để chỉ cái khí thế oai hùng, hào sảng của thời Trần (thời kì mà chúng ta có những chiến công lừng lẫy khi cả ba lần đều đánh tan sự xâm lược của giặc Mông – Nguyên).

Hào khí Đông A là chỉ cái khí thế hừng hực của niềm vui , chỉ cái khát khao mang tính thời đại mà ở đó ai ai cũng muốn góp sức dựng xây hay dang tay bảo vệ cho sự vững bền mãi mãi của non sông đất nước mình.

Hào khí Đông A từ xã hội đi vào thơ văn trở thành sự kết tinh cho những biểu hiện cao đẹp của . Có không ít tác phẩm nổi tiếng mang hơi thở của hào khí Đông A: Thuật hoài (Tỏ lòng) của , (Phò giá về kinh) của Trần Quang Khải, Hịch tướng sĩ văn của ,…

2. Tỏ lòng là một bài thơ ngắn, nhưng lại mang đậm dấu ấn của cả một thời (dấu ấn về âm hưởng của hào khí Đông A). Bài thơ là một bức tranh kì vĩ, hoành tráng bởi vẻ đẹp của hình tượng người anh hùng vệ quốc hiên ngang, lẫm liệt với lí tưởng và nhân cách lớn lao. Bài thơ cũng là vẻ đẹp của thời đại với khí thế hào hùng mang tinh thần quyết chiến và quyết thắng.

>> Xem thêm:  Kể lại một đoạn của câu chuyện em đã học, trong đó các sự việc được sắp xếp theo trình tự thời gian

II – HƯỚNG DẪN ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

1. So sánh câu thơ đầu trong nguyên tác chữ Hán với câu thơ dịch, ta thấy hai từ "múa giáo" chưa thể hiện được hết ý nghĩa của hai từ "hoành sóc". "Hoành sóc" là cầm ngang ngọn giáo mà trấn giữ non sông. Cả ý nghĩa lẫn âm hưởng của từ "hoành sóc" đều tạo ra cảm giác kì vĩ và lớn lao hơn.

Trong câu thơ đầu này, con người xuất hiện trong bối cảnh không gian và đều rộng lớn. Không gian mở theo chiều rộng của núi sông và mở lên theo chiều cao của sao Ngưu thăm thẳm. không phải đo bằng ngày bằng tháng mà đo bằng năm, không phải mới một năm mà đã mấy năm rồi (khấp kỉ thu).Con người cầm cây trường giáo (cũng đo bằng chiều ngang của non sông), lại được đặt trong một không gian, thời gian như thế thì thật là kì vĩ. Con người hiên ngang ấy mang tầm vóc của con người vũ trụ, non sông.

2. Câu thơ "Tam quân tì hổ khí thôn ngưu" có hai cách hiểu: Thứ nhất, ta có thể hiểu là "Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu". Nhưng cũng có thể giải thích theo cách khác, với cách hiểu là: “Ba quân hùng mạnh khí thế át sao Ngưu”. Có thể nói quân đội nhà Trần mạnh cả về trí và lực, không những có được đầy đủ binh hùng tướng mạnh mà còn có những vị đại tướng quân trí, dũng song toàn (như: Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Trần Nhật Duật,…). Vì thế thật không quá khoa trương khi nói: cái khí thế ấy đúng là đủ sức làm đổi thay tròi đất.

>> Xem thêm:  Tuần 10 - Đọc thêm: Lời tiễn dặn (trích Tiễn dặn người yêu - truyện thơ dân tộc Thái)

3. Tỏ lòng là bài thơ nói chí. Đó là cái chí của những bậc nam nhi trong thiên hạ. Chính vì thế; món "nợ công danh" mà nhà thơ nói đến ở đây vừa là khát vọng lập công, lập danh (mong để lại tiếng thơm, sự nghiệp cho đời) vừa có ý "chưa hoàn thành nghĩa vụ đối với dân, với nước".

Thời trung đại, trang nam nhi sống theo lí tưởng "Phải có danh gì với núi sông", với họ lập công danh đóng góp tài sức cho đất nước là một món nợ đời phải trả.

4. Trong câu thơ cuối, nỗi "thẹn" đã thể hiện vẻ đẹp nhân cách của người anh hùng. Phạm Ngũ Lão "thẹn" vì chưa có được tài năng mưu lược như Vũ hầu Gia Cát Lượng (Khổng Minh – đời Hán) để giúp dân cứu nước, thẹn vì trí và lực của mình thì có hạn mà nhiệm vụ khôi phục giang sơn, đất nước còn quá bộn bề. Nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão cũng là những day dứt của hay của sau này. Đó là những nỗi thẹn có giá trị nhân cách – nỗi thẹn của những con người có trách nhiệm với đất nước, non sông.

5. Người xưa nói "Quốc gia lâm nguy, thất phu hữu trách". Câu nói ấy quả rất đúng với tinh thần của bài thơ Tỏ lòng. Đọc những dòng thơ hào hùng khí thế, ta có thể rất rõ vẻ đẹp sức vóc và ý chí của những trang nam nhi thời đại nhà Trần. Âm hưởng anh hùng ca của thời đại do những con người ấy tạo nên và cũng chính âm hưởng ấy tôn lên vẻ đẹp anh hùng của họ. Họ đã từ bỏ lối sống tầm thường, ích kỉ, để sẵn sàng chiến đấu và hi sinh cho sự nghiệp cứu nước, cứu dân. Tinh thần và ý chí ngoan cường của những con người ấy sẽ vẫn mãi là lí tưởng cho nghị lực và sự phấn đấu của tuổi trẻ hôm nay và mai sau.

>> Xem thêm:  Tuần 3 - Văn bản (tiếp theo)

Mai Thu

Bài viết liên quan