Bài 21 – Viết bài tập làm văn số 5 – Văn thuyết minh (Làm tại lớp)


Bài 21 – Viết bài tập làm văn số 5 – (Làm tại lớp)

Hướng dẫn

Đềbài: Thuyết minh về một thể thơ.

Bài tham khảo

Một thể câu thơ cách luật mà các thể thức được tập trung thể hiện trong một khổ gồm có hai dòng với số tiếng cố định: dòng sáu tiếng (câu lục) và dòng tám tiếng (câu bát).

Các thể thức chủ yếu của lục bát:

– Gieo vần: vừa gieo vần chân vừa gieo vần lưng. Tiếng cuối câu lục gieo vần xuống tiếng thứ sáu câu bát, tiếng cuối câu bát gieo vần xuống tiếng cuối câu lục tiếp theo.

o B O T 0 B

0 B 0 T 0 B o B

Trong đó: B – bằng; T – trắc; o – tự do (bằng hoặc trắc), tiếng thứ sáu và tiếng thứ tam của câu bát cùng là thanh bằng nhưng cần có sự kết hợp chuyển đổi giữa bổng (thanh ngang) và trầm (thanh huyền).

– Ngắt nhịp: thông thường là nhịp chẵn, mỗi nhịp hai tiếng. Tuy vậy, có thể gặp lối ngắt nhịp lẻ, mỗi nhịp ba tiếng.

Ngoài ra, còn có thể gặp một số ngoại lệ:

– Thanh bằng ở tiếng thứ hai đổi thành thanh trắc. Thanh trắc ở tiếng thứ tư đổi thành thanh bằng (ít gặp hơn).

– Câu thơ không còn kích thước thông thường, mà có thể thêm hoặc bớt một số tiếng (thường là thêm):

Một trăm chiếc nốc chèo xuôi

Không có chiếc mô chèo ngược để ta gửi lời viếng thăm.

Tiếng cuối câu lục bát gieo vần xuống tiếng thứ tư (có khi là tiếng thứ hai) câu bát. Tiếng thứ tư này vốn mang thanh trắc, phải chuyển thành thanh bằng (trầm):

mà đi ăn đêm

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.

Thơ lục bát cho phép mọi sự tìm tòi sáng tạo về âm luật trong các bài thơ cụ thể.

Ngày nay trong thơ ca Việt Nam , thơ lục bát vẫn chiếm một địa vị quan trọng, được nhiều nhà thơ sử dụng và quần chúng yêu thích.

>> Xem thêm:  MS109 - Kể lại một tình bạn đẹp thời ấu thơ

(Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi (đồng Chủ biên), Từ điển thuật ngữ , Sđđ)

Đề bài: Viết bài thuyết minh về .

Bài tham khảo

Hằng năm, tới ngày rằm tháng Tám âm lịch, trẻ em khắp nước ta được người lớn cho rước đèn, ăn bánh nướng, bánh dẻo và múa lân thật là vui. Ngày ấy chính là Tết Trung thu – cái tết gắn bó với người Việt Nam, trẻ em Việt Nam đã từ lâu.

Tết Trung thu rất gắn bó với người Việt ta nhưng chắc ít ai biết rằng Tết Trung thu có nguồn gốc từ đâu. Từ thế kỉ VIII (713 – 755), thời Đường Minh Hoàng đã có tục vui Tết Trung thu. Sách xưa chép rằng: nhân một rằm tháng Tám, khi cùng các con tròn, vua Đường ao ước được lên trên trời một lần. Diệu Pháp Thiên đã tâu xin làm phép đưa vua lên cung trăng. Sau khi lên cung trăng, Minh Hoàng đã được Chúa Trời tiếp rước, bày tiệc đãi đằng và cho hàng trăm tiên nữ xinh tươi mặc áo lụa nhiều màu sắc rực rỡ, tay cầm tấm lụa trắng tinh múa trên sân, vừa múa vừa hát khúc Nghê Thường vũ y. Vua Đường rất thích, nhờ có khiếu thẩm âm nên vừa khen ngợi vừa lẩm nhẩm học thuộc bài hát và điệu múa, đem về Hoàng cung bày cho cung nữ trình diễn. Cuối năm đó, quan Tiết Độ Sứ cai trị xứ Tây Lương tiến dâng về triều một đoàn vũ nữ với điệu múa Bà La Môn. Vua thấy điệu múa nhiều chỗ giống Nghê Thường vũ y, liền chỉnh đốn hai bài hát và hai điệu múa làm thành Nghê Thường vũ y khúc, về sau, tục , xem ca múa đã phổ biến khắp dân gian trong ngày rằm tháng Tám. Sau đó biến thành tục lệ vui chơi đêm Trung thu. Sau khi hình thành ở Trung Hoa, Tết Trung thu đã lan rộng ra khắp các nước láng giềng và thuộc địa của Trung Quốc. Sách sử Việt không nói Tết Trung thu có từ nước ta vào năm nào, chỉ biết rằng từ hàng mấy trăm năm trước, tổ tiên ta đã theo tục tệ này. Tết Trung thu phải có bánh dẻo và bánh nướng như Nguyên đán. Không có hai thứ bánh này nghĩa là không có tết. Chiếc bánh hình tròn gợi hình mặt trăng tròn đầy, biểu hiện cho sự ấm no và . Vì thế mọi người làm quà bằng bánh dẻo và bánh nướng để tặng cho người thân… Bánh dẻo gồm có hai phần: phần áo và phần thân. Bánh dẻo muốn ngon phải qua những khâu chế biến phức tạp. Áo bánh phải chọn gạo nếp vàng vùng Trôi hoặc vùng Bắc Ninh, Bắc Giang. Gạo rang rồi xay hoặc giã nhỏ mịn, nhào với nước đường ngan ngát mùi hoa bưởi. Tất cả các công đoạn trên đều do tay người thợ “nghệ” đảm nhiệm. Người thợ không được sai sót một khâu nào. Bột được cho vào khuôn. Dỡ khuôn là chiếc bánh hiện rõ những hoa văn chìm nổi của bông hồng nở tám hoặc mười cánh. Phần mặt áo bánh dẻo, ngọt đậm, thơm dịu. Phần nhân bánh nhất thiết do thợ cả quán xuyến với những khâu quan trọng đầy bí quyết: rang và ủ vừng, xử lí mứt bí, mứt sen, hạnh nhân, hạt dưa, ướp nhân, tạo hương cho nhân… Mãi về sau này người ta mới phá cách cho lạp xưởng vào. Nhân bánh được cải tiến với nhiều sáng kiến. Bánh nướng là “em” bánh dẻo. Nó sinh sau đẻ muộn nên có lắm trò hơn. Bánh nướng và bánh dẻo cũng có loại nhân chay bằng đậu xanh mịn, hạt sen… ăn rất dịu và thoảng hương đồng gió nội. Chúng mang hương vị, thanh sắc Việt Nam thanh cao, nhã nhặn. Tết Trung thu còn có rất nhiều trò chơi, không chỉ cho trẻ em, mà còn làm cho cả người lớn vui vẻ và thoải mái hơn sau những ngày làm việc vât vả. Trò múa sư tử, múa lân không thể thiếu được trong những ngày này. Đầu lân bằng giấy và có đuôi dài bằng vải màu, có một người cầm đuôi ấy phất phất theo nhịp múa của lân. Ngoài ra còn thanh la, đèn màu, cờ ngũ sắc, có người cầm côn đi hộ vệ đầu lân… đám múa lân đi trước, người lớn và trẻ em theo sau. Trước đây tại các tư gia thường treo giải thưởng bằng tiền. Sau một hồi múa, lân nhảy lên lấy giải thưởng. Thật là vui nhộn, náo nhiệt. Người ta bày cỗ với bánh trái hình mặt trăng, treo đèn kết hoa, nhảy múa ca hát theo nhịp trống. Những cuộc rước đèn với các loại đèn đặc sắc rực sáng trong đêm như để các em vui chơi với chị Hằng: đèn ông sao, đèn lồng, đèn , đèn kéo quân rực sáng làm mất đi cái ảm đạm, tăm tối của ban đêm. Sau khi chơi cỗ, trông tràng, các em cùng nhau phá cỗ. Một đêm Trung thu vui vẻ đã kết thúc.

>> Xem thêm:  Bài 17 - Kiểm tra tổng hợp cuối học kì I

Tết Trung thu đã trở thành tập tục văn hóa của người Việt Nam trong mỗi làng, mỗi xóm, mỗi phường… Nó rất gắn bó với người dân chúng ta. Chúng ta cần giữ gìn tập tục văn hóa này sao cho cả thế giới đều biết đến để cùng chung vui, làm sao cho bản sắc văn hóa này phát triển rực rỡ, không bị mai một theo .

(Cao Bích Xuân)

Mai Thu

Bài viết liên quan