T4, 01 / 2018 12:47 chiều | Thuthuy
Đánh giá bài viết

Tuần 21 – Vợ Nhặt

Hướng dẫn

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

1. Kim Lân (1920 – 2007), tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, quê ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Gia đình khó khăn, ông chỉ được học hết bậc tiểu học rồi phải đi làm. Kim Lân bắt đầu sự nghiệp viết văn năm 21 tuổi với những câu chuyện mang tính chất tự truyện như: Đứa con người vợ lẽ, Đứa con người cô đầu, Cô Via,… Trong những câu chuyện này, Kim Lân đã thể hiện được khá sắc sảo không khí tiêu điều, ảm đạm của nông thôn và cuộc sống lam lũ của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Kim Lân được dư luận đặc biệt chú ý khi ông đi vào mảng đề tài độc đáo: tái hiện sinh hoạt văn hoá phong phú ở thôn quê (những trò chơi như đánh vật, chọi gà, thả chim,…).

Sau Cách mạng tháng Tám, Kim Lân tiếp tục làm báo, viết văn. Ông vẫn chuyên viết truyện ngắn và vẫn viết về làng quê Việt Nam – mảng hiện thực mà từ lâu ông đã hiểu biết sâu sắc.

Những tác phẩm chính: Nên vợ nên chồng (tập truyện ngắn, 1955), Con chó xấu xí (tập truyện ngắn, 1962).

2. Truyện ngắn Vợ nhặt có tiền thân là tiểu thuyết Xóm ngụ cư – tác phẩm được viết từ ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công nhưng còn dang dở và mất bản thảo. Sau khi hoà bình lập lại (1954), Kim Lân đã dựa vào một phần cốt truyện cũ để viết Vợ nhặt.

Thông qua những hình ảnh thật xúc động, nhà văn đã vẽ lên bức tranh hiện thực xã hội nông thôn Việt Nam trong nạn đói 1945. Vẽ ra thảm cảnh, tác giả cũng đồng thời khẳng định chỉ có lòng nhân ái và sự quật khởi mới có thể giúp những người cùng khổ vượt qua được tai hoạ ghê gớm ấy.

II – HƯỚNG DẪN ĐỌC – HlỂU VĂN BẢN

1. Tác phẩm gồm 4 đoạn chính:

– Đoạn 1 (từ đầu đến "Thị vẫn ngồi móm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, mặt bần thần"): cảnh Tràng dẫn vợ về nhà.

– Đoạn 2 (tiếp theo đến "cùng đẩy xe bò về…"): lí giải về việc Tràng nhặt được vợ.

– Đoạn 3 (tiếp theo đến "nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng"): cuộc gặp gỡ giữa bà cụ Tứ và nàng dâu mới.

– Đoạn 4 (phần còn lại): buổi sáng hôm sau ở nhà Tràng.

Mạch truyện được dẫn dắt hết sức khéo léo. Các cảnh được miêu tả trong truyện đều được xuất phát từ tình huống anh Tràng lấy được vợ giữa những ngày đói kém khủng khiếp.

2. Truyện ngắn gây chú ý cho người đọc ngay từ nhan đề truyện – một cái nhan đề nói được khá nhiều về hoàn cảnh, số phận của nhân vật chính. Tên truyện ghi nhận một tình huống éo le, độc đáo, vừa bi thảm nhưng cũng lại thấm đẫm tình người, đó là tình huống Tràng lấy được vợ. Tinh huống này đã gây ngạc nhiên cho cả xóm ngụ cư, cho mẹ Tràng và cho cả bản thân Tràng nữa, bởi:

– Một người nghèo túng, xấu xí, dân ngụ cư (bị người làng khinh bỉ), xưa nay con gái không ai thèm để ý đến, vả lại cũng chẳng thể có tiền để lấy vợ, vậy mà bỗng dưng lại lấy được vợ, dù chỉ là "vợ theo", "vợ nhặt".

– Giữa lúc đói kém, người như Tràng đến thân mình còn không nuôi nổi lại đèo bòng vợ với con.

Chính vì thế mà khi Tràng dắt một người đàn bà lạ mặt về nhà, cả xóm ngụ cư đều ngơ ngác, không hiểu thế nào. Họ chưa thể nghĩ đấy là vợ anh và anh ta lại dám lấy vợ vào lúc này ("ôi chao! Giời đất này còn rước cái nợ đời về. Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không?").

Bà cụ Tứ, mẹ Tràng còn ngạc nhiên hơn nữa khi trông thấy người đàn bà kia ở trong nhà với con mình: "Quái sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? […] Sao lại chào mình bằng u? […] Ai thế nhỉ? […] Ô hay, thế là thế nào nhỉ?".

Đến ngay chính Tràng cũng ngạc nhiên: "Nhìn thị ngồi ngay giữa nhà, đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư? Hà! Việc xảy ra thật hắn cũng không ngờ, hắn cũng chỉ tầm phơ, tầm phào đâu có hai bận ấy thế mà thành vợ chồng…". Thậm chí sáng hôm sau ngày có vợ, anh vẫn chưa hết bàng hoàng: "Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngỡ ngàng như là không phải".

Đây là một tình huống oái oăm không biết nên vui hay nên buồn, không biết nên mừng hay nên lo. Mọi người đều có tâm trạng ấy, từ những người dân xóm ngụ cư đến chính Tràng ("anh chàng cũng chọn, nghĩ: thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng"). Đặc biệt tâm trạng bà cụ Tứ đầy mâu thuẫn, vì "Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự". Bà mừng vì dù sao con mình cũng đã có vợ, một mặt lại tủi vì gặp phải lúc đói khổ này người ta mới lấy đến con mình. Bà lo lắng nhưng rồi lại động viên con và hi vọng chúng nó có thể vượt qua được cái "tao đoạn khó khăn này".

Tình huống éo le trên đã mở đầu cho sự phát triển của truyện và tác động đến diễn biến tâm trạng và hành động của các nhân vật trong tác phẩm.

3. Hai chữ "vợ nhặt" đã tạo được ấn tượng, kích thích sự chú ý của người đọc. Đây không phải là cảnh lấy vợ đàng hoàng, có ăn hỏi, có cưới xin theo phong tục truyền thống của người Việt mà là một hạnh phúc do vô tình mà có, do nhật nhạnh mà thành. Chỉ qua hiện tượng "nhặt được vợ" của Tràng, tác giả đã làm nổi bật tình cảnh và thân phận của người nông dân nghèo trong nạn đói khủng khiếp nãm 1945. Tràng "nhặt được vợ" như người ta nhặt được cái rơm, cái rác vứt ở ven đường. Cái giá của con người chưa bao giờ lại rẻ rúng đến vậy. Tinh cảnh anh Tràng nhặt được vợ đã phơi bày tình cảnh thê thảm và thân phận tủi nhục của người nông dân nghèo, khi mà vấn đề cái đói, miếng ăn trở thành vấn đề sinh tử, hiện thực khủng khiếp đối với con người. Vấn đề miếng ăn không chỉ mang yếu tố vật chất, khẳng định sự sinh tồn mà còn đẩy tới việc khẳng định ý thức, nhân phẩm của con người. Miếng ăn được Kim Lân nhìn rộng ra về vấn đề tình người, cái đói đẩy con người ta vào chỗ cùng đường, tuyệt lộ. Hạnh phúc, tình yêu dẫu nhỏ bé, mong manh, tội nghiệp nhưng vẫn hết sức đáng trọng.

* Bài viết tham khảo (Ý nghĩa nhan đề truyện Vợ nhặt của Kim Lân):

Đặt tên cho một tác phẩm vãn học đã từ lâu được coi như là một khâu trong quá trình sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ. Vì vậy, nó cũng là một yếu tố thử thách tài nghệ năng mà người viết phải lao tâm khổ tứ mới có được. Thực tiễn văn học cho thấy, mỗi nhà văn có khuynh hướng riêng trong cách đặt tên tác phẩm. Có khi tên tác phẩm gắn liền với nhân vật chính như Chí Phèo, Lão Hạc,… Mảnh trăng cuối rừng hay Rừng xà nu lại là những truyện ngắn có nhan đề gắn với không gian, thời gian nghệ thuật của tác phẩm. Cũng có những tác phẩm mà nhan đề đã chứa đựng nội dung và cảm hứng chủ đạo của tác phẩm và Kim Lân đã tìm cho đứa con tinh thần của mình một cái tên thật ấn tượng: Vợ nhặt.

Có thể nói Vợ nhặt là một nhan đề rất lạ. ở đây, chữ "nhặt" vốn là một động từ đã được nhà văn sử dụng như một tính từ và chính điều đó đã mang lại cho nhan đề ý nghĩa mới. Trước tiên, nhan đề ấy gắn với tên một nhân vật trong tác phẩm – người đàn bà – "vợ nhặt". Đó là người đàn bà đã bị cái đói, miếng ăn huỷ hoại từ ngoại hình đến nhân phẩm. Kề cái chết, thị sẵn sàng bám vào lời hò vu vơ buông giữa chợ như một lời hứa, sẵn sàng gạ ăn một người đàn ông xa lạ giữa đường, giữa chợ chỉ sau hai lần gặp gỡ. Đó cũng là người đàn bà liều lĩnh, biến lời đưa đẩy, rủ rê của người đàn ông chưa quen biết thành lời cầu hôn chính thức mà không hề phân vân do dự khi "theo không" người đàn ông đó và coi anh ta là chồng.

Nhan đề tác phẩm còn gắn với tình huống truyện độc đáo mà nhà văn đã sáng tạo nên. Tràng – người thanh niên nghèo, xấu, lại là dân ngụ cư tưởng như không bao giờ biết đến hạnh phúc lứa đôi bất ngờ "nhặt được" vợ. Tinh huống "nhặt được" vợ của nhân vật Tràng càng độc đáo hơn khi Tràng lấy vợ vào lúc không ai nghĩ đến chuyện dựng vợ gả chồng, bởi sự đe dọa rình rập của cái đói. Hơn nữa, chuyện lấy vợ ấy diễn ra hết sức dễ dàng, nhanh gọn. Chỉ vài lời nói đùa, thế là có vợ. Vậy mà, cuộc hôn nhân đó dù thiếu tất cả nghi lễ của một đám cưới bình thường nhưng nó vẫn để lại trong lòng người đọc ấn tượng về tình người ấm áp chan chứa, về hạnh phúc ngập tràn.

Nhan đề Vợ nhặt đã mở đầu cho một loạt những quan niệm hết sức nghiệt ngã về người vợ trong tác phẩm. Vợ – biểu trưng cho hạnh phúc gia đình dưới định nghĩa của Kim Lân – có thể nhặt một cách dễ dàng như nhặt cái rơm cọng rác bên lề đường. Trong cảm nhân của người dân ngụ cư, vợ là cái nợ đời. Bởi lẽ, giữa lúc miếng ăn và cái đói đang đẩy con người đến vực thẳm của cái chết, nhu cầu sinh tồn lớn hơn tất cả thì việc có thêm một miệng ăn là cả vấn đề không nhỏ. Và chính trong suy nghĩ của Tràng – người trong cuộc – thì vợ cũng là một gánh nặng đèo bòng khiến cho con người không khỏi lo âu phấp phỏng. Có thể nói, chưa ở đâu, nhân phẩm và địa vị của người vợ bị coi thường, bị hạ thấp và bị rẻ rúng như trong Vợ nhặt của Kim Lân. Vì thế, nhan đề tác phẩm cũng góp phần thể hiện sâu sắc nội dung, tư tưởng cùng sáng tạo nghệ thuật của người viết.

Qua nhan đề Vợ nhặt, Kim Lân đã cất lên tiếng nói tố cáo phát xít Nhật – kẻ gây ra nạn đói năm 1945, hé mở cho người đọc thấy khát vọng mãnh liệt về hạnh phúc của những con người lao động nghèo khổ, khốn cùng. Đồng thời nhan đề cũng đã khẳng định tài năng của Kim Lân trong nghệ thuật xây dựng tình huống và sử dụng ngôn ngữ. Một cái nhan đề hiếm có và quả thực nó để lại trong người đọc những ám ảnh về thân phận con người.

4. Niềm khát khao hạnh phúc gia đình được thể hiện hết sức chân thực và sâu sắc qua nhân vật Tràng. Lúc đầu, khi có ý định đưa người đàn bà xa lạ về nhà, không phải Tràng không có chút phân vân, do dự: "Mới đầu anh chàng cũng chọn, nghĩ: thóc gạo này đến cái thân mình còn chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng". Nhưng sau một thoáng do dự, anh ta đã "tặc lưỡi một cái: Chậc, kệ!" rồi đưa người đàn bà xa lạ về nhà. Cái quyết định và hành động của Tràng thể hiện niềm khát khao hạnh phúc gia đình của người nông dân nghèo khổ này, đã cụ thể hoá ý đồ nghệ thuật của Kim Lân khi viết Vợ nhặt: "Khi người ta không nghĩ đến con đường chết mà chỉ nghĩ đến con đường sống. Dù ở trong tình huống bi thảm đến đâu, dù kề bên cái chết vẫn khao khát hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng, vẫn tin vào sự sống và vẫn hi vọng vào tương lai, vẫn muốn sống, sống cho ra người".

Kim Lân đã có những phát hiện tinh tế và sâu sắc về niềm khát khao hạnh phúc gia đình của nhân vật Tràng. Sự kiện bất ngờ nhặt được vợ làm thay đổi cuộc đời và số phận của Tràng. Trên đường dẫn vợ về nhà, Tràng như đã thành một con người khác: "Mặt hắn có một vẻ gì phởn phơ khác thường. Hắn tủm tỉm cưới nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh". Trước con mắt tò mò của người dân xóm ngụ cư, người đàn bà càng thêm "ngượng nghịu, chân nọ bước díu cả vào chân kia", còn Tràng "lại lấy vậy làm thích ý, cái mặt cứ vênh lên tự đắc với mình". Nhưng chính Tràng cũng không khỏi có lúc "cứ lúng ta lúng túng, tay nọ xoa xoa vào vai kia đi bên người đàn bà". Kim Lân đã diễn tả vừa cụ thể, vừa sinh động niềm khát khao tổ ấm gia đình và tình thương giữa những con người nghèo khổ đã vượt lên tất cả, bất chấp cả cái đói và cái chết: "Trong một lúc Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hằng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mặt. Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn và người đàn bà đi bên. Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy, nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng". Đến cái buổi sáng đầu tiên khi có vợ, Tràng thực sự thấy cuộc đời mình từ đây đã thay đổi hẳn, anh cảm thấy "trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra", chợt nhân ra "xung quanh mình có cái gì vừa thay đổi mới mẻ, khác lạ". Trong những giờ phút có tính chất bước ngoặt ấy, con người ta bỗng thấy mình trưởng thành. Niềm vui sướng, nỗi hạnh phúc của Tràng gắn liền với ý thức về bổn phân, trách nhiệm: "Bỗng nhiên hắn cảm thấy yêu thương gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng", "một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng", "bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này. Khát khao hạnh phúc gia đình đã đưa đến những trưởng thành trong phẩm cách, chín chắn trong suy nghĩ và bao dung, hi sinh trong tâm hổn. Con người trở nên người hơn với những yêu thương, khao khát thẳm sâu, những ước mong gắn bó, xây đắp.

5. Bà cụ Tứ là nhân vật được xây dựng dụng công nhất trong tác phẩm, thể hiện chiều sâu tư tưởng, gửi gắm thông điệp về tình yêu thương con người. Đó là hình ảnh của người mẹ già nghèo khổ, bất hạnh nhưng cũng là một người mẹ giàu tình yêu thương. Tâm trạng tinh tế, phức tạp của bà cụ Tứ sau khi Tràng có vợ được Kim Lân miêu tả hết sức sinh động, khéo léo. Từ chỗ ngạc nhiên đến lo lắng, phấp phỏng, đến những day dứt, bãn khoăn rồi xót thương, chua chát và cuối cùng là vui vẻ chấp nhận,… tất cả đã thể hiện tấm lòng bao dung, nhân hậu của người mẹ nghèo. Ngạc nhiên là tâm trạng đầu tiên, cũng là phản ứng tất yếu của một người mẹ quen sống lầm lũi, neo đơn. Với bà, việc Tràng dẫn người đàn bà về nhà là một việc bất thường, khác lạ, gây ra sự ngỡ ngàng, bất ngờ, đẩy bà vào thế bị động. Tràng lấy vợ là một việc trọng đại, bà ngạc nhiên bởi sự thay đổi lớn trong gia đình. Tác giả đã diễn tả sự ngạc nhiên của bà cụ qua một loạt những câu hỏi mà bà tự đặt ra cho mình. Bao nhiêu câu hỏi là bấy nhiêu nghi ngờ, lạ lẫm. Nhưng nỗi khổ sở, sự nghèo đói thường nhật đã thấm quá sâu vào tâm can bà, khiến bà đón nhận tin vui của con trong một sự nín lặng. Hình như bà cũng chẳng biết nên vui hay nên buồn, nên cười hay nên khóc. Nỗi tủi phận, thương tâm đến sâu thẳm của số phận con người đã được Kim Lân dồn tụ trong sự câm lặng của một bà cụ. Bà phải kìm nén bao nhiêu tâm sự của mình để chọn một trạng thái duy nhất. Nghệ thuật độc thoại nội tâm được sử dụng khá thành công, sau giây phút im lặng ấy, bà hiểu ra biết bao nhiêu là cơ sự. Những câu văn được viết từ nước mắt xót đau của tác giả, lời than của bà cụ là lời than của mọi kiếp người khốn khổ trong xã hội. Bao nhiêu quan niệm về bổn phận, trách nhiệm của một người mẹ được đánh thức trong bà. Bà cảm thấy mình có tội với con, những câu bặ tự nhủ giống như lời tự thú đau đớn của con người. Cái đói, cái nghèo kéo ghì số kiếp con người, làm con người phải quằn lưng, oằn xuống để gánh trả nó, nhưng đó vẫn là món nợ đeo đẳng, triền miên suốt cả một đời.

Sau khi hiểu ra cơ sự, khi có thời gian để ngẫm về cuộc đời mình, bà mới khóc. Giọt nước mắt rỉ xuống trong kẽ mắt kèm nhèm là giọt nước mắt tủi thân, tủi phận khi bà ý thức sâu sắc về cuộc đời khốn khổ của mình. Giọt nước mắt trào ra như muốn diễn tả bao nhiêu day dứt, tức tưởi, dằn vặt, lo lắng của con người. Đó là hệ quả tất yếu của sự kìm nén, nín lặng trong ai oán, xót thương ở trên, đó là những giọt nước mắt của cuộc đời tủi nhục, đau đớn. Bà quay lại nhìn người đàn bà con mình lấy làm vợ, từ tình thương cho con trai bà chuyển sang tình thương cho con dâu. Đó là sự gặp gỡ, đồng cảm trong tâm hồn những người phụ nữ bất hạnh, bà cụ Tứ không chỉ ý thức được nỗi khổ của đời mình, của con mình mà còn biết cảm thông với nỗi khổ của người đàn bà tội nghiệp kia. Dường như có một mối dây liên hệ kì diệu giữa tâm hồn những người phụ nữ đồng cảm, trái tim họ cùng đập nhịp đập của những sẻ chia yêu thương, khát khao hạnh phúc. Đến đây, bà thương con trai thì ít mà tội và thương con dâu nhiều hơn. Nước mất ròng ròng của bà cụ Tứ là nước mắt của sự đồng cảm, nỗi sẻ chia. Dường như bà muốn dùng nước mắt để gột rửa nỗi đau của thân phận mình. Tiếng khóc lúc này là sự giãi bày lòng mình, sự đi tìm những đồng cảm với các con. Cuối cùng, bà chấp nhận câu chuyện Tràng lấy vợ trong sự mừng vui, hạnh phúc, bà vẽ ra viễn cảnh tương lai cho các con: ngăn nhà, thu dọn nhà cửa, chủ động nói chuyện vui, đãi chè khoán,… Những ước mơ, khát vọng là biểu hiện cao nhất của tình yêu con, là nỗi trăn trở xưa nay vẫn chưa được làm tròn. Niềm tin, khát vọng, sự sống vẫn được thắp sáng trong tâm hồn con người dù già nua, dù đã muốn gần đất xa trời. Đây chính là đụng ý.nghệ thuật sâu sắc của Kim Lân, là cái đẹp của chủ nghĩa nhân văn, là triết lí tình thương vượt lên mọi đau khổ. Món chè khoán ngon trong tình yêu thương nhưng vẫn thấy nghẹn chát cái dư vị của đói nghèo, thể hiện niềm vui ám ảnh, tội nghiệp, nhỏ nhoi của con người. Hình ảnh, tâm trạng bà cụ Tứ thể hiện chiều sâu tư tưởng của Kim Lân, là nhân vật điển hình của bà mẹ Việt Nam khốn khó, bất hạnh nhưng giàu yêu thương, nhân ái.

* Bài viết tham khảo (Phân tích tâm trạng bà cụ Tứ trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân).

Vợ nhặt được coi là một trong những truyện ngắn xuất sắc.của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam. Nhờ tác phẩm mà Kim Lân có được vị trí vẻ vang và đầy danh dự trong lịch sử phát triển của nền văn xuôi Việt Nam nói chung, trong lịch sử phát triển của thể loại truyện ngắn nói riêng. Qua Vợ nhặt, nhà văn đã thể hiện thành công những giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc cũng như những thành tựu đặc sắc về nghệ thuật. Bên cạnh người "vợ nhặt", anh cu Tràng, hình tượng người mẹ – bà cụ Tứ cũng chiếm được rất nhiều cảm tình yêu mến của người đọc. Có thể nói đây là một trong những hình tượng người mẹ lao động có tính lí tưởng của vãn xuôi hiện thực Việt Nam.

Khác với anh cu Tràng và người "vợ nhặt", bà cụ Tứ không xuất hiện từ những trang đầu của tác phẩm mà xuất hiện trong một tình huống đặc biệt: Tràng đưa người "vợ nhặt" về nhà "ra mắt" mẹ chồng. Trong những mối quan hệ gia đình thì mối quan hệ giữa mẹ chồng và nàng dâu là mối quan hệ phức tạp và khó dung hoà nhất. Vậy mà bà cụ Tứ gặp nàng dâu đầu tiên không phải là lúc con trai đưa người yêu về ra mắt gia đình nhà chồng tương lai mà con trai đưa vợ chính thức vê ra mắt và chung sống với mẹ chồng khi chưa được sự cho phép. Kim Lân đã tạo ra sức hấp dẫn cho câu chuyện, với cuộc gặp gỡ đặc biệt như thế. Ban đầu, thấy con trai "reo lên như một đứa trẻ", bà cụ Tứ đã ngạc nhiên, "nhấp nháy hai con mắt nhìn Tràng". Nhưng "bà lão càng ngạc nhiên hơn" khi thấy có người đàn bà lạ ở trong nhà mình, "đến giữa sân bà lão đứng sững lại". Một loạt những câu hỏi tu từ liên tiếp là sự độc thoại nội tâm đã khắc hoạ đậm nét mức độ ngạc nhiên của bà cụ Tứ. "Quái sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u? Ai thế nhỉ?". Kim Lân dường như đã nhập thân vào tiếng nói bên trong của nhân vật để diễn tả chân thực trạng thái ngạc nhiên cao độ của bà cụ Tứ. Và người đọc còn đồng cảm hơn khi đôi mắt bà cụ "nhoèn" đi. Chữ "nhoèn" rất sống động, là một từ chân quê nhưng lại có khả năng diễn tả rất chuẩn xác hình ảnh nước mắt và gỉ mắt của người già chảy xuống vì xúc động, vì tuổi tác. Sự ngạc nhiên của bà xuất phát từ chỗ luôn mặc cảm, luôn ý thức được gia cảnh của mình. Nhà mình thì nghèo, lại là dân ngụ cư, con giai mình thì xấu vậy mà không cưới cheo gì, tự nhiên lại có vợ? Nhưng sau giây phút không tin ở chính tai mình, nghe Tràng giới thiệu một cách khéo léo về người đàn bà ấy: "Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ! Chúng tôi phải duyên phải kiếp với nhau… Chẳng qua nó cũng là cái số cả…" thì "bà lão hiểu rồi". "Bà lão cúi đầu nín lặng, lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu là cơ sự, vừa ai oán, vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình". Bà hiểu rằng nếu không gặp lúc đói khát thê thảm ấy, người ta không theo con trai mình về, thì nó chẳng bao giờ lấy nổi vợ. Thấm thìa, xót xa bà lại càng tủi thân, cực phận khi nghĩ tới lẽ đời "người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ãn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì…" (chưa làm tròn bổn phận của một người mẹ là xây dựng hạnh phúc gia đình cho con bởi nghèo khó khốn cùng). Dấu ba chấm ngừng lại giữa dòng diễn tả rất thấm thìa tâm trạng bà cụ Tứ, tủi thân trách phận đến mức nghẹn ngào không nói thành lời. Càng nghĩ càng tủi, và những giọt nước mắt đắng lòng trong trái tim của một người mẹ rất mực thương con đã chảy. Nhưng nó ngưng kết lại trên khuôn mặt già nua nhăn nheo tuổi tác "trong kẽ mắt lèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt"… Rồi bà lại lo, nỗi lo thắt ruột cho tương lai của các con "biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không". Có lẽ bất cứ người mẹ chồng nào trong hoàn cảnh nghèo khó cũng sẽ trải qua những trạng thái tâm lí như bà cụ Tứ: cũng ngạc nhiên, bối rối, mặc cảm lo âu. Điều này chứng tỏ Kim Lân đã am hiểu như thế nào về tâm lí và cảnh ngộ của người nông dân nghèo.

Tâm trạng của bà cụ Tứ khi con trai đưa người "vợ nhặt" về không chỉ được nhà văn miêu tả bằng những dòng độc thoại nội tâm sâu sắc mà còn thể hiện qua ngôn ngữ đối thoại. Từ nỗi lo cho tương lai các con, bà mẹ chồng "đăm đãm nhìn" nàng dâu mới trong một hoàn cảnh, dáng dấp rất tội nghiệp, "cúi mặt xuống, tay mân mê tà áo đã rách bợt". Bà rất đỗi cảm thông cho hoàn cảnh của thị "người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình". Dẫu có quyền đứng trên nền tảng của đạo đức gia phong để từ chối hay khó dễ với người đàn bà theo không về làm vợ, nhưng bà cụ Tứ đã dành cho con dâu tất cả tình yêu thương bao la của lòng mẹ. Những xót xa, tủi thân cực phận, những lo lắng đau lòng thắt ruột chỉ mình bà biết, chỉ mình bà hay. Còn bà dành cho các con niềm vui của sự đồng tình với khát vọng hạnh phúc đôi lứa "u cũng mừng lòng". Đây là một niềm vui rất gắng gượng vì con, vì dâu, vì cuộc sống gia đình. Niềm vui ấy không sao cất cánh lên được, cứ bị cái buồn tủi, xót xa lo âu níu trĩu xuống. Song, người đọc dường như cảm nhận được sự hàm ơn chân thành của bà cụ Tứ đối với người "vợ nhặt" của con trai mình cho dù không nói thành lời. Tinh cảm của bà dành cho nàng dâu mới được thể hiện qua cử chỉ, thái độ và những lời nói rất đỗi cảm động. Bà "nhẹ nhàng", "từ tốn", "thân mật" nói với nàng dâu về hoàn cảnh nhà mình. Rồi cả những lời dặn dò cũng rất mực tình người "vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn". Và cũng chính bà chủ động gieo vào lòng các con một niềm vui, niềm tin ở cuộc sống tương lai "rồi may mà ông giời cho khá… Có ra thì rồi con cái chúng mày về sau". Thái độ và cách ứng xử vị tha, nhân hậu hiếm có của bà cụ Tứ có được là nhờ sự từng trải, kinh nghiệm, bằng sự đồng cảm, chân thành của người mẹ nghèo đã nếm trải cay đắng tủi nhục để cảm thông, chia sẻ với những nỗi niềm khó cất thành lời của người con dâu. Bà đã tỏ rõ thái độ chấp nhận đầy bao dung cho dù người con dâu ấy không phải do mình lựa chọn. Chính bà đã tinh tế, khéo léo phá vỡ rào cản tâm lí nặng nề buổi đầu cho tất cả thành viên trong gia đình. Bởi thế "Tràng thở đánh phào một cái" và chắc chắn người "vợ nhặt" không còn mặc cảm nặng nề về thân phân cũng như không bị tổn thương đến danh dự và lòng tự trọng. Bà cụ Tứ cũng đã tự giải thoát được gánh nặng tâm lí cho mình.

Vừa mới le lói hi vọng ở tương lai, không khí chết chóc tang thương của xóm ngụ cư lại kéo bà trở về đối mặt với thực tại. Trước một bước ngoặt lớn của gia đình, bà nghĩ đến người thân, đến ông lão rồi đến cuộc đời cực khổ dài dằng dặc của mình, bà lại thương cho người con dâu. Tinh thương ấy không chỉ là tình thương của tấm lòng bao dung của một người mẹ, cũng không chỉ là tình "thương người như thể thương thân" – một vẻ đẹp đáng quý trong tâm hồn người lao động mà còn là tình thương của một người đàn bà dành cho một người đàn bà. Bà đã từng làm dâu, bởi vậy bà rất thương người đàn bà về làm dâu nhà mình chẳng được như mình trước đây, hay như những người đàn bà khác. Rồi bà lại lo, nỗi lo không kìm nén được bật ra thành lời tâm sự "năm nay thì đói to đấy. Chúng mày lấy nhau lúc này u thương quá". Và để rồi tất cả tình thương yêu nỗi lo lắng, sự xót xa buồn tủi khiến bà lão "nghẹn lời", "nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng". Nhưng khi ánh sáng ngọn đèn bừng lên bà lại vội lau nước mắt, vội giấu đi nỗi đau lòng của mẹ để các con được vui. Chi tiết bà cụ Tứ đồng tình với việc Tràng thắp đèn "ừ thắp lên một tí cho sáng sủa" nói với người đọc biết bao điều về tấm lòng của mẹ. Một người mẹ nông dân nghèo đến nỗi phải bỏ cả quê hương bản quán và mồ mả của ông bà để đến đây ngụ cư, phải có chí nhặt nhạnh chắt bóp, hà tiện từng li từng tí, vậy mà vẫn đồng tình khi con nó thắp đèn trong thời buổi cơm không có mà ăn và dầu thì "đắt gớm". Rõ ràng căn lều nát của mẹ con bà cụ Tứ trước đây chìm ngập trong bóng đêm mênh mang của cuộc đời tăm tối thì giờ đây đang sáng lên bởi ánh sáng từ trái tim yêu thương nhân hậu và vị tha của mẹ. Ngòi bút Kim Lân không chỉ tỏ ra am hiểu và tinh tế khi miêu tả tâm lí nhân vật mà còn nâng niu, trân trọng những vẻ đẹp cao quý của hồn người. Đêm xuống, bà lão đã đi nghỉ nhưng vẫn dặn với sang "hôm nào nghỉ ở nhà kiếm lấy ít nứa về đan cái phên mà ngăn ra mày ạ" thể hiện sự quan tâm chăm chút của bà với các con để chúng được hưởng một niềm hạnh phúc trọn vẹn.

Con trai bỗng nhiên có vợ khiến cụ Tứ vui buồn xen lẫn cay đắng tủi nhục. Song, lớn lao hơn cả vẫn là niềm hạnh phúc thực sự của người mẹ nghèo khi con cái đã yên bề gia thất. Sáng hôm sau, người đọc được thấy bà cụ Tứ trong niềm vui sướng hạnh phúc vô bờ. Niềm hạnh phúc ấy hiện ra từ nét mặt, cử chỉ đến lời nói. "Cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên", không còn cái dáng đi "lọng khọng", lòm khòm chậm chạp của người già cả mà lẵ cái dáng "xăm xắn" thu dọn quét tước rất linh hoạt, nhanh nhẹn. Điều kì lạ ở chỗ trong bữa cơm ngày đói, bà cụ Tứ là người già nhất, cuộc đời đã gần kề cái chết lại là người nói nhiều nhất. Bà nói "toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau". Người mẹ nghèo ấy không có những tài sản vật chất trao cho con vào ngày cưới nhưng đã đem đến cho con một tài sản vô giá – đó là những lời động viên hướng các con tới tương lai, vẽ ra một viễn cảnh tươi sáng như chỗ bám víu cho con người sức mạnh để vượt qua thử thách hiện tại, dù đó là tương lai đầy ảo tưởng nhưng chứa đựng một thái độ tích cực đối với cuộc sống. Nói rằng: người phụ nữ là những người giữ lửa và truyền lửa cho mái ấm gia đình là hoàn toàn đúng. Bà cụ Tứ đã giữ lửa và truyền ngọn lửa của niềm tin, của sự sống cho các con, cho nàng dâu mới.

Hình tượng bà cụ Tứ là đốm lửa nhỏ soi sáng toàn bộ tác phẩm, ở người mẹ ấy, ta tìm thấy những phẩm chất truyền thống của người phụ nữ Việt Nam, từng trải nên sống sâu sắc, trái tim nhạy cảm và dễ cảm thông với nỗi khổ đau của người khác. Đó còn là người mẹ chồng được xây dựng đến mức lí tưởng với tấm lòng nhân hậu, luôn sống vì các con luôn hướng đến một tương lai tốt đẹp. Nhờ những phẩm chất cao quý ấy cùng lối ứng xử tinh tế, đầy tình người mà Tràng mới có một mái ấm gia đình, người "vợ nhặt" mới có một gia đình, cả hai mới có những thay đổi kì diệu trong cách nghĩ, cách sống. Có thể nói rằng thiếu đi hình tượng bà cụ Tứ, Vợ nhặt sẽ không thể có được một kết thúc tích cực sáng tươi như thế, câu chuyện về số phận những con người nghèo khổ khốn cùng sẽ không có được một kết thúc mang màu sắc cổ tích như thế.

6. Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn của Kim Lân qua truyện ngắn Vợ nhặt:

– Cách tạo tình huống truyện độc đáo, tự nhiên, kết hợp nhuần nhuyễn hai yếu tố hiện thực và nhân đạo.

– Bút pháp phân tích tâm lí nhân vật tinh tế, sâu sắc.

– Nghệ thuật đối thoại, độc thoại nội tâm làm nổi rõ tâm lí của từng nhân vật.

– Ngôn ngữ truyện phong phú, có tính cá thể hoá, phù hợp với cá tính nhân vật.

– Cách kể chuyện tự nhiên, giọng điệu chậm rãi thể hiện vốn sống, sự hiểu biết phong phú về đời sống nông thôn và người nông dân. Cách kể nhiều khi hóm hỉnh, sắc sảo nhưng vẫn đôn hậu.

– Kết cấu truyện khá đặc sắc, kết thúc mở. Kim Lân có tài sử dụng những chi tiết nghệ thuật, thể hiện sinh động tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm.

III – HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

1. "Tác phẩm có nhiều chi tiết rất thật, hiện lên dưới nhiều góc độ phong phú, nhiều sắc độ tình cảm. Trong đó, đặc biệt nổi bật là chị tiết về người đàn bà ãn bốn bát bánh đúc.

Thị ở đâu sầm sập chạy đến… đứng trước mặt hắn sưng sỉa nói: "Điêu! Người thế mà điêu!". Thái độ sưng sỉa của thị như muốn quát vào mặt Tràng: Tôi đói quá nhưng không xin ăn. Anh bảo tôi cùng đẩy xe bò để có ãn, vậy mà chẳng có, người thế mà điêu. Tôi mắng anh là điêu nhưng tôi vãn đứng trước mặt anh đây, hi vọng, trông cậy và… "cong cớn"! "Đấy, muốn ăn gì thì ăn […] Rích bố cu, hở!"

Chỉ chờ có vậy, "Hai con mắt trũng hoáy của thị tức thì sáng lên, thị đon đả: Ăn thật nhá! ừ ăn thì ãn, sợ gì". Đói đến mắt trũng hoáy, nhưng vẫn cứ là người, mà lại là người lương thiện: Án thật nhá! Anh không nói đùa đấy chứ, em ăn thật đây, không có gì phiền cho anh chứ? "Thị cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền, chẳng chuyện trò gì. Ăn xong, thị cầm dọc đôi đũa quệt ngang miệng, thở!" cắm đầu ăn vì đói quá, còn một chữ thở mà nói lên bao điều: vừa mệt lại vừa sung sướng… Ai đã bao giờ đói lả mà được ăn mới hiểu chữ thở hay đến mức nào, còn nếu chưa, chắc hẳn cũng cảm nhận được cái gì sẽ xảy ra khi người ta đói lả mà được cho ăn; chữ thở hay hơn chữ sáng mắt ở câu trên, tuy hai chữ sáng mắt cũng có giá. "Hà ngon! về chị ấy thấy hụt tiền thì bỏ bố". Sự thăm dò tự nhiên và khéo léo, cũng như nghĩ về một người đàn bà khác, nếu có sẽ bị thua thiệt vì mình… Những chi tiết đắt giá như vậy đầy ắp từ đầu tới cuối truyện".

2. Đoạn kết của tác phẩm có ý nghĩa quan trọng trong việc thể hiện chủ đề của tác phẩm. Hình ảnh đoàn người đi phá kho thóc của Nhật và hình ảnh lá cờ đỏ của Việt Minh phấp phới bay trong đầu óc của Tràng đã khép lại câu chuyện, mang tính chất lịch sử. Câu chuyện của Kim Lân không chỉ gợi ra hình ảnh của nạn đói năm 1945 mà còn mở ra hình ảnh của cách mạng Việt Nam trong năm ấy. Đó là con đường tất yếu của người nông dân đi theo cách mạng. Hình ảnh lá cờ đỏ đã gây ra một ám ảnh lớn trong óc Tràng, thôi thúc, giục giã con người gượng dậy để sống, để chiến thắng nỗi vất vả, khốn khó của mình. Đó là một hình ảnh có sức vẫy gọi rất lớn, thể hiện sự vận động tất yếu trong ý thức tư tưởng của Tràng. Người nông dân không chỉ nhận ra hoàn cảnh khốn khó của mình mà còn ước muốn thoát khỏi sự khốn khó ấy. Con người không chỉ ý thức được nỗi đau mà còn vượt qua, chiến thắng nỗi đau ấy. Đoạn kết đã thể hiện bước ngoặt trong tư tưởng, chủ đề của tác phẩm, thể hiện niềm tin tưởng của tác giả vào khát vọng mãnh liệt của nông dân vào cách mạng, kháng chiến. Vợ nhặt không chỉ là bức tranh cụ thể, sống động về thảm cảnh của con người trong nạn đói 1945 mà còn là bài ca về tình yêu cuộc sống bất diệt. Tác phẩm không chỉ có giá trị tố cáo mạnh mẽ mà còn là tiếng lòng sẻ chia chân thành, cảm thông của nhà văn với số phận con người.

Mai Thu

Ứng dụng VĂN MẪU TỔNG HỢP trên điện thoại với hơn 30k bài văn mẫu hay nhất, giải bài tập SGK, soạn văn đầy đủ chi tiết. Hãy tải App ngay để chúng tôi phục vụ bạn tốt hơn nhé!

Nếu thấy bài viết hay, hãy động viên và chia sẻ ban biên tập! Các bình luận không phù hợp sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.

Loading...
Bài viết cùng chuyên mục