Tuần 26 – Rèn luyện kĩ năng mở bài, kết bài trong bài văn nghị luận


Tuần 26 – Rèn luyện kĩ năng mở bài, kết bài trong bài văn nghị luận

Hướng dẫn

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

1. Mở bài

– Yêu cầu của mở bài:

Mở bài có vai trò quan trọng đối với một bài văn. Mở bài đúng và hay sẽ khai thông được mạch văn. Ở phần mở bài, người viết cần khái quát vấn đề sẽ nghị luân, sẽ làm sáng tỏ trong bài viết. Để có được đoạn mở bài hay, cần nêu trọng tâm và phạm vi vấn đề sẽ bàn bạc một cách ngắn gọn, viết tự nhiên, khúc chiết và mới mẻ.

– Cách mở bài:

Người viết chủ động mở bài thật sáng tạo, để chẳng những khơi gợi hứng thú thưởng thức văn phong mà còn gây được sự chú ý của người đọc về vấn đề sẽ viết.

Nhìn chung có hai cách chính: mở bài trực tiếpmở bài gián tiếp. Đối với cách thứ nhất, người viết nêu ngay vấn đề trọng tâm. Đối với cách thứ hai, người viết xuất phát từ một ý kiến, một câu chuyện, một câu thơ, đoạn văn, một phát ngôn của nhân vật nổi tiếng nào đó,… dẫn dắt người đọc đến vấn đề sẽ bàn luận trong bài viết.

2. Kết bài

– Kết bài là phần kết thúc bài viết vì vậy nó tổng kết, thâu tóm lại vấn đề đã đặt ra ở mở bài và phát triển ở thân bài. Một kết bài hay không chỉ làm nhiệm vụ "gói lại" mà còn phải "mở ra" – đó là khơi gợi , tình cảm của người đọc. Thâu tóm lại nội dung bài viết không có nghĩa là lặp lại mà phải dùng một hình thức khác để khái quát ngắn gọn. Khơi gợi hay tạo dư ba trong lòng người đọc là câu văn khi đã khép lại vẫn khiến cho người đọc day dứt, trăn trở hướng về nó.

– Một số cách kết bài thường gặp là:

+ Kết bài tóm tắt và nhận xét khái quát về nội dung, tư tưởng của người viết đã trình bày trước đó. Đây là cách thông thường và cũng là yêu cầu cơ bản nhất của kết bài, nhưng không đáp ứng tốt yêu cầu gợi dư ba cho bài viết.

+ Kết bài khái quát nội dung và kêu gọi hành động.

+ Kết bài khái quát nội dung và đặt ra câu hỏi nhằm khơi gợi suy nghĩ và tình cảm ở người đọc.

+ Kết bài khái quát nội dung và mở rộng, nâng cao vấn đề đã được bàn bạc trong các phần trên.

II – HƯỚNG DẪN TÌM HlỂU BÀI

1. Tìm hiểu các phần mở bài (SGK, tr. 112-113) và cho biết phần mở bài nào phù hợp hơn với yêu cầu trình bày đề tài. Giải thích vắn tắt lí do lựa chọn của anh (chị).

>> Xem thêm:  Kể về một chuyện vui sinh hoạt

Gợi ý:

– Mở bài (1) không phù hợp vì vấn đề đặt ra là giá trị nghệ thuật của tình huống truyện nhưng mở bài chỉ đề cập đến tác giả và những tác phẩm chính.

– Mở bài (2) không phù hợp vì đề bài chỉ yêu cầu giá trị nghệ thuật (của tình huống truyện) nhưng người viết nêu cả giá trị về nội dung.

– Mở bài (3) phù hợp vì đã giới thiệu được đúng vấn đề của bài viết.

2. Đọc các phần mở bài (SGK, tr. 113 – 114) và thực hiện theo các yêu cầu.

a) Đoán định đề tài được triển khai trong văn bản:

– Văn bản (1): quyền độc lập, tự do của mỗi .

– Văn bản (2): của – một thi phẩm độc đáo.

– Văn bản (3): Sự độc đáo và sâu sắc của Chí Phèo (Nam Cao),

b) Phân tích tính hấp dẫn của các mở bài trên.

Điều hấp dẫn lớn nhất của các văn bản trên là có sự Ịiên hệ, đối chiếu giữa nhiều đối tượng cùng đề tài để giới thiệu vấn đề nghị luân của bài viết.

– Mở bài (1): Liên hê với Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mĩ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791.

– Mở bài (2): Liên hệ, đối chiếu Thâm Tâm với Thôi Hiệu, Tống biệt hành với Hoàng Hạc lâu.

– Mở bài (3): Liên hệ, đối chiếu Chí Phèo của Nam Cao với nhiều tác phẩm cùng đề tài trước đó.

3. Mở bài cần thông báo chính xác, ngắn gọn về đề tài; hướng người đọc (người nghe) vào đề tài một cách tự nhiên và gợi sự hứng thú với vấn đề được trình bày trong văn bản.

4. Gợi ý:

– Kết bài (1) không phù họp vì không đi vào vấn đề chính là nhân vật ông lái đò mà chỉ tổng kết những vấn đề liên quan đến tác phẩm.

– Kết bài (2) phù hợp vì đã tổng kết được những vấn đề liên quan đến nhân vật ông lái đò – yêu cầu chính của đề bài.

5. Những phần kết bài (SGK, tr.114 – 115) đã nên được nội dung gì của văn bản và có khả năng tác động đến người đọc như thế nào? Tại sao?

Gợi ý:

– Kết bài (1) đã tổng kết lại vấn đề, rút ra nhận định từ những điều đã trình bày: Vì những lẽ trên… Hước Việt Ham có quyền hưởng tự do và độc lập đồng thời thể hiên những suy nghĩ, tình cảm của chủ thể: Toàn thể dân tộc Việt Ham quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy.

Kết bài chẳng những làm sống dậy lòng tự hào dân tộc mà còn khơi dậy lòng yêu nước, quyết tâm đánh giặc giữ nước của con người Việt Nam.

>> Xem thêm:  Tuần 24 - Thực hành về hàm ý

– Kết bài (2) khẳng định giá trị của tác phẩm và nhẩn mạnh ấn tượng mà tác phẩm để lại trong người đọc. Kết bài gọi lên tình cảm thích thú, yêu mến đối với tác phẩm.

6. Đáp án c.

Ill – HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

1. So sánh sự giống nhau và khác nhau của hai phần mở bài (SGK, tr.116) trong bài văn nghị luận về tác phẩm ông già và biển cả với đề bài: "Cảm nhận của anh (chị) về qua hình tượng ông lão đánh cá Xan-ti-a-gô trong tác phẩm Ông già và biển cả của nhà vãn ".

– Điểm giống nhau của hai mở bài: đều giới thiệu được vấn đề cần nghị luận số phận con người qua hình tượng ông lão đánh cá Xan-ti-a-gô trong tác phẩm Ông già và biển cả của nhà văn Hê-minh-uê.

– Khác nhau:

+ Mở bài (1) đi từ tác giả, tác phẩm đến việc giới thiệu vấn đề cần nghị luận. Các câu văn đều là câu trần thuật.

+ Mở bài (2) có sự dẫn dắt liên tưởng từ bài thơ Biển đêm của V. Huy-gô. Tác giả dẫn dắt từ vấn đề bi kịch của con người. Mặt khác, tác giả sử dụng nhiều câu hỏi gợi mở, đặc biệt, vấn đề chính của bài viết cũng được diễn đạt dưới dạng một câu hỏi tạo sự tò mò.

2. Tại sao phần mở bài và kết bài (SGK, tr.l16 – 117) chưa đạt yêu cầu? Anh (chị) hãy viết lại để những phần này hay hơn, phù hợp hơn.

– Về mở bài và kết bài của đề bài: "Suy nghĩ của anh (chị) về hình tượng nhân vật Mị trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của nhà văn ".

+ Mở bài không đáp ứng yêu cầu vì chỉ tập trung giới thiệu về tác giả và những tác phẩm chính không có sự đề cập đến vấn đề cần nghị luận của bài viết.

+ Kết bài không đạt yêu cầu bởi không đánh giá về vấn đề trung tâm của bài viết, có sự lan man sang những chủ đề khác ("bi kịch của Mị", "diễn biến nội tâm" của nhân vật).

– Để viết lại mở bài và kết bài cần chú ý:

+ Mở bài có thể giới thiệu khái quát về tác giả và phong cách sáng tác. Từ đó dẫn dắt đến tác phẩm (là tác phẩm tiêu biểu của nhà văn) và giới thiệu hình tượng nhân vật Mị trong tác phẩm (là hình tượng trung tâm của tác phẩm).

>> Xem thêm:  Tuần 31 - Văn bản tổng kết

+ Kết bài có thể giữ lại câu 1 của kết bài trên (làm nhiệm vụ khái quát lại vấn đề) nhưng cần có sự đánh giá về hình tượng nhân vật (tiêu biểu cho con người vùng cao, thể hiện giá trị nhân đạo của tác phẩm,…).

3. Cách viết mở bài và kết bài cho các đề bài:

Đề 1: Suy nghĩ của anh (chị) về hình tượng "sóng" và khát vọng tình yêu trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh.

+ Mở bài: Có thể đi từ tác giả, tác phẩm để giới thiệu về hình tượng "sóng" và khát vọng tình yêu trong bài thơ (nội dung chính của tác phẩm). Hoặc đi từ đề tài tình yêu trong thi ca để giới thiệu vấn đề.

+ Kết bài: Khái quát về hình tượng "sóng", nêu lên mối liên hệ giữa hình tượng "sóng" với khát vọng tình yêu tha thiết của nhân vật trữ tình trong bài thơ.

Đề 2: Anh (chị) hiểu thế nào về tình yêu và khát vọng đối với tự do trong bài thơ Tự do của p. Ê-luy-a?

+ Mở bài: Nên đi từ đề tài tự do trong thi ca (có thể có sự liên hệ với những bài thơ của , , Sóng Hồng,…) để giới thiệu về tình yêu và khát vọng đối với tự do trong bài thơ.

+ Kết bài: Khái quát và đánh giá về tình yêu tha thiết và khát vọng cháy bỏng của nhà thơ đối với tự do (gây những niềm xúc cảm lớn lao, là tiếng nói chung của những người dân bị cầm tù, nô lệ…).

Đề 3: Hãy lí giải nguyên nhân và ý nghĩa của hành động quyết liệt: Mị cắt dây trói cho A Phủ và cùng A Phủ trốn khỏi nhà thống lí Pá Tra.

+ Mở bài: Giới thiệu về tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài và sức sống tiềm tàng, khao khát sống mãnh liệt của nhân vật Mị trong tác phẩm. Từ đó, dẫn dắt đến giới thiệu hành động quyết liệt: Mị cắt dây trói cho A Phủ và cùng A Phủ trốn khỏi nhà thống lí Pá Tra.

+ Kết bài: Khái quát nguyên nhân và ý nghĩa của hành động đó (xuất phát từ sức sống tiềm tàng đồng thời khẳng định sức sống ấy trong con người nhân vật). Hành động của Mị thể hiện sự đồng cảm sâu sắc của tác giả đối với con người vùng cao; đây cũng là một khía cạnh thể hiện tinh thần nhân đạo của tác phẩm.

Mai Thu

Bài viết liên quan